Hoãn thực hiện nghĩa vụ là gì? Nghĩa vụ chấm dứt khi nào?

Hoãn thực hiện nghĩa vụ là gì? Nghĩa vụ chấm dứt khi nào?

Khi một bên không thể thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, liệu họ có thể xin hoãn thực hiện nghĩa vụ và điều gì có thể sẽ xảy ra nếu không thông báo kịp thời? Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về việc hoãn thực hiện nghĩa vụ và các trường hợp dẫn đến việc nghĩa vụ dân sự chấm dứt ? Cùng Luật Dương Gia tìm hiểu những quy định quan trọng về trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, để từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong một số tình huống.

Căn cứ pháp lý: Bộ luật dân sự 2015

1. Giới thiệu chung về hoãn thực hiện nghĩa vụ

Quy định về hoãn thực hiện nghĩa vụ được ghi nhận tại Điều 354 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

“Điều 354. Hoãn thực hiện nghĩa vụ
1. Khi không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền biết và đề nghị được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ.
Trường hợp không thông báo cho bên có quyền thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại phát sinh, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do nguyên nhân khách quan không thể thông báo.
2. Bên có nghĩa vụ được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ, nếu được bên có quyền đồng ý. Việc thực hiện nghĩa vụ khi được hoãn vẫn được coi là thực hiện đúng thời hạn”

1.1. Khái niệm chung về hoãn thực hiện nghĩa vụ

Hoãn thực hiện nghĩa vụ là trường hợp bên có nghĩa vụ vẫn được coi là thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, mà không phải chịu trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ. “Hoãn” có nghĩa tạm thời dừng, không tiếp tiếp tục thực hiện công việc đang làm. Do đó, có thể hiểu hoãn thực hiện nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ tạm thời ngừng thực hiện nghĩa vụ trong một quãng thời gian nhất định, tùy vào thỏa thuận của các bên hoặc quy định của pháp luật.

1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc hoãn thực hiện nghĩa vụ trong pháp luật dân sự

Mục đích chính của việc hoãn thực hiện nghĩa vụ là tạo ra sự linh hoạt trong các giao dịch dân sự. Nếu không thể thực hiện nghĩa vụ đúng hạn do những lý do khách quan, bên có nghĩa vụ không bị coi là vi phạm, mà có thể được tạm hoãn để thực hiện nghĩa vụ sau đó. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của các bên, tránh thiệt hại do sự kiện bất khả kháng và duy trì sự công bằng trong các giao dịch dân sự.

2.  Điều kiện áp dụng hoãn thực hiện nghĩa vụ

2.1. Trường hợp có thể hoãn thực hiện nghĩa vụ trong pháp luật dân sự

Pháp luật chỉ cho phép hoãn thực hiện nghĩa vụ trong những trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn vì lý do khách quan. Những lý do này có thể bao gồm thiên tai, dịch bệnh, sự cố ngoài ý muốn hoặc những sự kiện bất khả kháng mà các bên không thể lường trước được. Tuy nhiên, nếu bên có nghĩa vụ có thể kiểm soát hoặc dự báo được lý do không thực hiện nghĩa vụ thì không được phép hoãn.

2.2. Quy trình thông báo và yêu cầu hoãn nghĩa vụ

Khi bên có nghĩa vụ nhận thấy rằng họ không thể thực hiện nghĩa vụ đúng hạn, họ cần phải thông báo ngay cho bên có quyền về lý do không thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu hoãn thực hiện. Việc thông báo này phải được thực hiện kịp thời và hợp lý, nhằm giúp bên có quyền đánh giá tình huống và đưa ra quyết định có chấp nhận việc hoãn nghĩa vụ hay không. Nếu bên có quyền đồng ý với việc hoãn, các bên sẽ thỏa thuận về thời gian và các điều kiện hoãn. Nếu không có sự đồng ý của bên có quyền, bên có nghĩa vụ sẽ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận ban đầu.

2.3. Sự đồng ý của bên có quyền trong việc hoãn nghĩa vụ

Sự đồng ý của bên có quyền là yếu tố quyết định trong việc hoãn nghĩa vụ. Nếu bên có quyền không đồng ý với yêu cầu hoãn nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ sẽ không thể tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp này, bên có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đúng theo thỏa thuận, hoặc nếu không thực hiện, sẽ phải chịu trách nhiệm về việc vi phạm nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại nếu có. Sự đồng ý của bên có quyền giúp đảm bảo rằng quyền lợi của họ không bị xâm phạm và nghĩa vụ sẽ được thực hiện sau khi tình hình cho phép.

3. Nghĩa vụ chấm dứt

3.1. Chấm dứt nghĩa vụ được quy định như thế nào?

Chấm dứt nghĩa vụ được hiểu là việc một người có nghĩa vụ phải giao một tài sản hoặc thực hiện công việc nhằm đáp ứng lợi ích cho bên có quyền sẽ không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Việc chấm dứt nghĩa vụ sẽ giải phóng cho bên có nghĩa vụ khỏi việc thực hiện nghĩa vụ mà không bị coi là vi phạm và không phải chịu bất cứ một chế tài nào. Nói cách khác, nghĩa vụ chấm dứt đồng nghĩa với việc chấm dứt một mối quan hệ pháp luật về nghĩa vụ giữa hai bên và lúc này bên có quyền sẽ không có quyền yêu cầu và bên có nghĩa vụ cũng không phải thực hiện nghĩa vụ.

3.2. Các trường hợp làm cho nghĩa vụ chấm dứt

  • Nghĩa vụ được hoàn thành
  • Theo thỏa thuận của các bên
  • Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ
  • Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác
  • Nghĩa vụ được bù trừ
  • Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một
  • Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết
  • Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện
  • Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác
  • Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác
  • Trường hợp khác do luật quy định.

3.3. Căn cứ xác lập nghĩa vụ

Theo Điều 275 Bô luật dân sự 2015 thì căn cứ xác định nghĩa vụ gồm :

“Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:

– Hợp đồng.

– Hành vi pháp lý đơn phương.

– Thực hiện công việc không có ủy quyền.

– Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

– Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.

– Căn cứ khác do pháp luật quy định.”

3.4. Trường hợp hoàn thành nghĩa vụ

Nghĩa vụ được hoàn thành khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ nhưng phần còn lại được bên có quyền cho miễn thực hiện.

Hoàn thành nghĩa vụ trong trường hợp bên có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ. Nghĩa vụ cũng được coi là hoàn thành khi bên có nghĩa vụ thực hiện được một phần nghĩa vụ nhưng phần còn lại được bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ. Nếu đối tượng của nghĩa vụ là tài sản mà người có quyền chậm tiếp nhận thì nghĩa vụ cũng coi là hoàn thành khi bên có nghĩa vụ gửi giữ tài sản đó tại nơi nhận gửi giữ theo quy định của pháp luật.

Việc thể hiện ý chí của bên mang quyền trong quan hệ nghĩa vụ về việc không yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ. Quan hệ nghĩa vụ sẽ chấm dứt kể từ thời điểm người có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ.

Khi bên có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ là tài sản thì nghĩa vụ hoàn thành tại thời điểm tài sản đã được gửi giữ tại nơi nhận gửi giữ trường hợp chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ là tài sản thì bên có nghĩa vụ có thể gửi tài sản tại nơi nhận gửi giữ tài sản hoặc áp dụng biện pháp cần thiết khác để bảo quản tài sản và có quyền yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý. Trường hợp tài sản được gửi giữ thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền.

Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác. Ngược lại với căn cứ trên thì trong trường hợp này bên chấm dứt tư cách chủ thể lại là bên mang quyền. Trong trường hợp quyền yêu cầu gắn với nhân thân của cá nhân hoặc pháp nhân mà theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận của các bên khi cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt quyền yêu cầu đó không thể để lại thừa kế hoặc không thể chuyển giao thì quan hệ nghĩa vụ cũng chấm dứt.

Khi các bên có nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó và khi vật đặc định không còn thì nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định sẽ chấm dứt. Tuy nhiên, trong trường hợp này các bên có thể thỏa thuận thay thế bằng nghĩa vụ khác. Nếu không thỏa thuận được thì bên có nghĩa vụ giao vật sẽ phải thanh toán giá trị của vật và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

3.4. Các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ

Điều 372 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về 11 căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ:

“Nghĩa vụ chấm dứt trong trường hợp sau đây:

1. Nghĩa vụ được hoàn thành;

2. Theo thỏa thuận của các bên;

3. Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ;

4. Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác;

5. Nghĩa vụ được bù trừ;

6. Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một;

7. Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết;

8. Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;

9. Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác;

10. Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác;

11. Trường hợp khác do luật quy định.”

3.5. Những trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ:

Theo điều 379 Bộ luật dân sự 2015 thì quy định về các trường hợp không được bù trừ nghĩa vụ bao gồm :

“Nghĩa vụ không được bù trừ trong trường hợp sau đây:

1. Nghĩa vụ đang có tranh chấp;

2. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;

3. Nghĩa vụ cấp dưỡng;

4. Nghĩa vụ khác do luật quy định.”

Từ đây ta thấy rằng, nghĩa vụ đang có tranh chấp là quan hệ nghĩa vụ đang có mâu thuẫn, bất đồng và có yêu cầu giải quyết của một trong các bên. Đối với loại nghĩa vụ này cần phải có một quyết định giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xác định chính xác quyền và nghĩa vụ của các bên. Hơn nữa, cần phải hiểu rộng, kể cả trong trường hợp đối tượng của nghĩa vụ đang có người thứ ba tranh chấp thì việc bù trừ nghĩa vụ cũng không thể thực hiện được bởi lẽ chưa xác định được chính xác chủ thế có quyền và nghĩa vụ đối với đối tượng thì việc bù trừ nghĩa vụ có thể sẽ ảnh hưởng tới quyền lợi của những người có liên quan đến tranh chấp đó.

Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín. Nghĩa vụ này là để giúp bù đắp tổn thất về vật chất mà còn bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại và thân nhân của họ.

Nghĩa vụ về tài sản gắn với nhân thân người phải cấp dưỡng và người được cấp dưỡng.  Người trong mối quan hệ đặc biệt mới được pháp luật ghi nhận có mối quan hệ cấp dưỡng đối với nhau. Khi hưởng quyền cấp dưỡng cũng là để đảm bảo mức sống tối thiểu của người được cấp dưỡng.

Trường hợp bạn đang còn thắc mắc về nội dung này cũng như các vấn đề có liên quan hoặc sử dụng dịch vụ pháp lý, liên hệ ngay Hotline để được tư vấn và hỗ trợ sớm nhất!

Gọi ngay
Gọi ngay