Hợp đồng mua bán tài sản là gì? Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản

Hợp đồng mua bán tài sản là gì? Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản

Mua bán là hoạt động cốt lõi của nền kinh tế thị trường, nơi các cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức không ngừng trao đổi hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu và tối đa hóa lợi ích. Trong dòng chảy sôi động đó, Hợp đồng mua bán tài sản đóng vai trò như một công cụ pháp lý quan trọng, ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bên về việc chuyển giao tài sản và quyền sở hữu kèm theo các nghĩa vụ tài chính tương ứng.

Vậy, hợp đồng mua bán tài sản là gì? Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản là gì? Với loại hợp đồng này đã trở thành công cụ không thể thiếu trong các giao dịch dân sự. Bài viết sau đây sẽ làm rõ khái niệm và đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản là gì?

Căn cứ pháp lý

Bộ luật dân sự 2015

1. Hợp đồng mua bán tài sản là gì?

Theo điều 385 bộ luật dân sự 2015 quy định:

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

heo khoản 1 Điều 430  bộ luật dân sự 2015 quy định:

Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

Ví dụ: Anh A ký hợp đồng thuê nhà với chị B.Theo hợp đồng: Anh A có quyền sử dụng căn nhà trong 12 tháng. Chị B có quyền nhận tiền thuê hàng tháng. Hai bên thỏa thuận rằng nếu vi phạm thì bên kia được quyền chấm dứt hợp đồng. Trong trường hợp này: Việc ký hợp đồng xác lập quyền và nghĩa vụ:
A được ở, B được nhận tiền.Nếu A trả thêm tiền để gia hạn hợp đồng là thay đổi quyền, nghĩa vụ. Nếu A không trả tiền đúng hạn và B đơn phương chấm dứt hợp đồng là chấm dứt quyền, nghĩa vụ

2. Chất lượng của tài sản mua bán

Theo điều 432 bộ luật dân sự 2015 quy định:

Chất lượng của tài sản mua bán do các bên thỏa thuận.

Trường hợp tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì thỏa thuận của các bên về chất lượng của tài sản không được thấp hơn chất lượng của tài sản được xác định theo tiêu chuẩn đã công bố hoặc theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Khi các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về chất lượng tài sản mua bán thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo tiêu chuẩn ngành nghề.

Trường hợp không có tiêu chuẩn về chất lượng của tài sản đã được công bố, quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tiêu chuẩn ngành nghề thì chất lượng của tài sản mua bán được xác định theo tiêu chuẩn thông thường hoặc theo tiêu chuẩn riêng phù hợp với mục đích giao kết hợp đồng và theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

3. Giá và phương thức thanh toán

Theo Điều 433 Giá và phương thức thanh toán quy định::

Giá, phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận hoặc do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên. Trường hợp pháp luật quy định giá, phương thức thanh toán phải theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thỏa thuận của các bên phải phù hợp với quy định đó.

Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về giá, phương thức thanh toán thì giá được xác định theo giá thị trường, phương thức thanh toán được xác định theo tập quán tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng

4. Thời gian thực hiện hợp đồng mua bán

Theo điều 434 bộ luật dân sự 2015 quy định về Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán quy định:

Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán do các bên thỏa thuận. Bên bán phải giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thỏa thuận; bên bán chỉ được giao tài sản trước hoặc sau thời hạn nếu được bên mua đồng ý.

Khi các bên không thỏa thuận thời hạn giao tài sản thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán giao tài sản và bên bán cũng có quyền yêu cầu bên mua nhận tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho nhau một thời gian hợp lý.

Bên mua thanh toán tiền mua theo thời gian thỏa thuận. Nếu không xác định hoặc xác định không rõ ràng thời gian thanh toán thì bên mua phải thanh toán ngay tại thời điểm nhận tài sản mua hoặc nhận giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản.

5. Đặc điểm của hợp đồng mua bán tài sản

Hợp đồng mua bán tài sản là một loại hợp đồng song vụ, trong đó cả bên bán và bên mua đều có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau. Cụ thể, bên bán có quyền yêu cầu bên mua nhận tài sản và thanh toán đầy đủ số tiền đã thỏa thuận; đồng thời, bên mua có quyền yêu cầu bên bán giao tài sản và nhận tiền từ việc mua bán đó.

Hợp đồng mua bán tài sản là loại hợp đồng có tính chất đền bù, trong đó bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán sau khi đã nhận được tài sản. Số tiền mà bên mua phải trả chính là sự đền bù cho việc chuyển giao tài sản từ bên bán. Tính chất đền bù là điểm khác biệt cơ bản giữa hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng tặng cho tài sản – vốn là hợp đồng không có đền bù. Trong hợp đồng có đền bù, các bên thực hiện sự trao đổi lợi ích một cách tương đương và có giá trị ngang nhau.

  Hợp đồng mua bán tài sản là loại hợp đồng được thiết lập với mục đích chuyển quyền sở hữu tài sản từ bên bán sang bên mua.

6. Đối tượng của hợp đồng mua bán

Căn cứ điều 431 bộ luật dân sự quy định về đối tượng của hợp đồng mua bán như sau:

Tài sản được quy định tại Bộ luật dân sự 2015 đều có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán. Trường hợp theo quy định của luật, tài sản bị cấm hoặc bị hạn chế chuyển nhượng thì tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán phải phù hợp với các quy định đó.

Tài sản bán thuộc sở hữu của người bán hoặc người bán có quyền bán

– Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán phải là tài sản được pháp luật cho phép giao dịch. Những tài sản bị pháp luật nghiêm cấm như ma túy, vũ khí, chất nổ,… thì các bên không được quyền thỏa thuận hay thực hiện hợp đồng mua bán đối với các loại tài sản này nhằm đảm bảo tính hợp pháp của giao dịch và bảo vệ trật tự, an toàn xã hội. Nếu vi phạm, hợp đồng sẽ vô hiệu và các bên có thể bị xử lý theo quy định pháp luật.

Ví dụ, anh A và anh B thỏa thuận mua bán 5kg ma túy với giá 500 triệu đồng. Tuy nhiên, ma túy là loại tài sản bị pháp luật nghiêm cấm giao dịch, do đó dù hai bên có đạt được thỏa thuận thì hợp đồng này cũng không có giá trị pháp lý. Việc mua bán ma túy không chỉ khiến hợp đồng vô hiệu mà còn có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là cả hai bên bị xử lý hình sự theo quy định của pháp luật. Giao dịch như vậy vi phạm nghiêm trọng quy định về đối tượng của hợp đồng mua bán và không được pháp luật bảo vệ.

– Đối với tài sản bị hạn chế chuyển nhượng, việc mua bán phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật. Các bên phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục, điều kiện mà pháp luật đã quy định. Chỉ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu này, hợp đồng mua bán mới được coi là hợp pháp.

Ví dụ, chị A muốn chuyển nhượng 1.000m² đất rừng sản xuất cho anh B, người không cư trú tại địa phương. Tuy nhiên, đất rừng sản xuất là loại tài sản bị hạn chế chuyển nhượng nên việc mua bán phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật, bao gồm điều kiện về đối tượng được nhận chuyển nhượng và trình tự, thủ tục thực hiện. Nếu chị A và anh B không thực hiện đúng các yêu cầu này, như không có sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc không đáp ứng điều kiện về người nhận chuyển nhượng, thì hợp đồng mua bán sẽ không được pháp luật công nhận là hợp pháp và có thể bị tuyên vô hiệu.

– Tài sản được đem ra giao dịch mua bán phải thuộc quyền sở hữu của bên bán hoặc bên bán phải có quyền định đoạt hợp pháp đối với tài sản đó. Việc chuyển giao tài sản chỉ được coi là hợp pháp khi người chuyển giao có quyền hợp pháp đối với tài sản. Đây là một hình thức thực hiện quyền định đoạt – quyền mà theo quy định pháp luật chỉ chủ sở hữu mới có thể thực hiện. Chủ sở hữu có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình, bao gồm cả quyền trực tiếp bán tài sản hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện việc đó. Trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao quyền hợp pháp, chủ thể được ủy quyền có thể bán tài sản không thuộc sở hữu của mình mà không bị xem là vi phạm pháp luật, và hợp đồng mua bán tài sản đó vẫn được pháp luật công nhận là có hiệu lực.

Ví dụ, anh A lấy chiếc xe máy của bạn mình đem bán cho anh B mà không có sự cho phép hay giấy ủy quyền hợp pháp từ người bạn đó. Trong trường hợp này, anh A không phải là chủ sở hữu và cũng không có quyền định đoạt đối với tài sản, nên việc chuyển nhượng xe là không hợp pháp. Do đó, hợp đồng mua bán giữa anh A và anh B sẽ bị coi là vô hiệu. Ngược lại, nếu anh A được chủ sở hữu xe ủy quyền hợp pháp thông qua văn bản theo quy định pháp luật, thì anh hoàn toàn có thể thay mặt người bạn thực hiện giao dịch mua bán và hợp đồng sẽ được pháp luật công nhận là có hiệu lực.

Trên đây là bài viết của Luật Dương Gia về “Hợp đồng mua bán tài sản là gì? Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản?”. Trường hợp bạn còn đang thắc mắc hoặc cần tư vấn hỗ trợ liên hệ ngay hotline: 079.497.8999 – 093.154.8999 để được giải đáp sớm nhất.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng

Chi nhánh Miền Trung: 67 Trần Xuân Lê, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

Điện thoại: 0931548999; 02367300899

Gọi ngay
Gọi ngay