Trong quá trình vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngân sách nhà nước đóng vai trò là công cụ chủ yếu để Nhà nước thực hiện các chức năng về kinh tế – xã hội. Các khoản thu vào ngân sách nhà nước phải được quản lý chặt chẽ, minh bạch, và đúng quy định pháp luật. Để đảm bảo điều này, hệ thống chứng từ, hóa đơn thu nộp ngân sách nhà nước ra đời, đóng vai trò chứng minh tính hợp pháp của các khoản thu, đồng thời là công cụ quan trọng trong công tác kiểm tra, thanh tra tài chính nhà nước.
Tuy nhiên, trên thực tế, đã xuất hiện không ít trường hợp vi phạm trong việc bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, gây thiệt hại không nhỏ đến tài sản công và trật tự quản lý kinh tế. Trước thực trạng đó, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã quy định cụ thể tội danh “Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” tại Điều 204.
– Căn cứ pháp lý: Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017
1. Khái niệm và bản chất Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
1.1. Khái niệm hóa đơn, chứng từ
Căn cứ pháp lý tại khoản 1 và khoản 4 Điều 3 Nghị định 123/2020/NĐ-CP Quy định về hóa đơn, chứng từ
Hóa đơn là chứng từ kế toán do tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Hóa đơn được thể hiện theo hình thức hóa đơn điện tử hoặc hóa đơn do cơ quan thuế đặt in.
Chứng từ là tài liệu dùng để ghi nhận thông tin về các khoản thuế khấu trừ, các khoản thu thuế, phí và lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật quản lý thuế. Chứng từ theo quy định tại Nghị định này bao gồm chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, biên lai thuế, phí, lệ phí được thể hiện theo hình thức điện tử hoặc đặt in, tự in.
Các hóa đơn, chứng từ là cơ sở, là căn cứ xác định các khoản thuế, các nghĩa vụ tài sản của một thực thể kinh tế với nhà nước, xác định các khoản thu nộp ngân sách nhà nước. Hóa đơn, chứng từ cũng là công cụ để nhà nước quản lý các hoạt động kinh tế. Do vậy, việc bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ cần được thực hiện nghiêm chỉnh, chặt chẽ, không để gây thiệt hại lợi ích cho nhà nước, xã hội, các chủ thể kinh tế. Hành vi vi phạm về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước đã được hình sự hóa.
Hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước bao gồm hóa đơn, chứng từ giấy và hóa đơn, chứng từ điện tử.
1.2. Bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ
Bảo quản và quản lý ở đây được hiểu là toàn bộ các hoạt động nhằm giữ gìn, lưu trữ hóa đơn, chứng từ một cách an toàn, đúng quy trình, bảo đảm thông tin ghi trên chứng từ được chính xác, đầy đủ, nguyên vẹn, không bị mất mát, hư hỏng hoặc lợi dụng vào mục đích trái pháp luật.
1.3. Vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ
Hành vi vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước có thể hiểu là hành vi của người có trách nhiệm bảo quản, quản lý các hóa đơn, chứng từ cố ý không thực hiện, không thực hiện đúng các quy định của pháp luật của pháp luật về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ gây thiệt hại về tài sản cho nhà nước hoặc người khác. Những hành vi này có thể là: Làm mất, thất lạc hóa đơn, chứng từ; Lưu trữ sai thời hạn, địa điểm, phương thức; Không thực hiện các biện pháp bảo vệ cần thiết; Sử dụng hóa đơn, chứng từ vào mục đích không hợp pháp.
1.4 Bản chất của tội phạm
Tội “Vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước” là một tội phạm trật tự quản lý hành chính – kinh tế, phản ánh hành vi xâm phạm trực tiếp đến cơ chế kiểm soát thu, chi ngân sách của Nhà nước thông qua các công cụ pháp lý là hóa đơn và chứng từ tài chính.
Bản chất của loại tội phạm này không nằm ở việc chiếm đoạt tài sản hay gian lận tài chính trực tiếp, mà nằm ở sự vi phạm nghĩa vụ pháp lý trong việc lưu trữ, bảo quản tài liệu có tính chất chứng minh, theo dõi, đối chiếu và phục vụ thanh tra, kiểm tra tài chính công.
Tội phạm có thể phát sinh từ hành vi thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, hoặc vi phạm có chủ ý để che giấu những hành vi gian lận tài chính khác như tham ô, trốn thuế, lập quỹ trái phép… Do đó, tội này có thể là một mắt xích trong chuỗi tội phạm kinh tế, tài chính hoặc tham nhũng. Việc bảo quản hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách không chỉ là thủ tục hành chính, mà là một mắt xích đảm bảo minh bạch, hợp pháp của toàn bộ quá trình thu, nộp, chi tiêu công.
Vì vậy, bản chất của tội phạm này là vi phạm nghĩa vụ pháp lý mang tính trách nhiệm công vụ và kỷ luật tài chính – nơi mà hành vi tuy có thể không trực tiếp gây ra thiệt hại vật chất ngay tức thì, nhưng lại gây rủi ro rất lớn cho tính minh bạch và kỷ cương tài chính – ngân sách nhà nước.
2. Cấu thành Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
2.1. Chủ thể
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội.
Chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có trách nhiệm trong việc lưu trữ, quản lý hóa đơn, chứng từ mới có thể là chủ thể của tội phạm này.
Đây là những người tham gia vào các hoạt động kinh tế, tạo lập các hóa đơn, chứng từ, hoặc được giao nhiệm vụ bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ của các tổ chức, doanh nghiệp… Chủ thể của tội phạm này bao gồm: Người mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ; Người có trách nhiệm của tổ chức mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ; Người có trách nhiệm của tổ chức đặt in hoặc nhận in hóa đơn.
Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân thực hiện tội phạm một mình nhưng cũng có thể là nhiều người cùng thực hiện tội phạm. Trường hợp nhiều người thực hiện cùng một tội phạm được quy định theo Điều 17 Bộ luật Hình sự, quy định về đồng phạm. Theo đó, đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2.2. Khách thể
Khách thể của tội phạm là trật tự quản lý hành chính Nhà nước về hóa đơn, chứng từ và chế độ bảo quản, lưu trữ hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, quản lý thu, chi ngân sách nhà nước.
Đối tượng tác động của tội phạm là hóa đơn, chứng từ cần thu nộp ngân sách nhà nước
2.3. Mặt khách quan
2.3.1. Hành vi khách quan:.
Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi vi phạm quy định của Nhà nước về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gây thiệt hại thực tế. Không đảm bảo việc bảo quản, lưu trữ hóa đơn, chứng từ theo đúng quy định pháp luật (yêu cầu về việc bảo quản, lưu trữ hóa đơn, chứng từ được quy định cụ thể tại Điều 6 Nghị định 123/2020/NĐNĐCP). Hành vi vi phạm bao gồm: Không bảo quản đúng quy định, dẫn đến mất, hư hỏng, thất lạc hóa đơn, chứng từ; Hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các biện pháp bảo quản cần thiết; Cố ý hoặc vô ý để cho hóa đơn, chứng từ bị lợi dụng, sử dụng trái phép; Xử lý việc mất, cháy, hỏng hóa đơn không theo đúng quy định của pháp luật; Thực hiện hủy hóa đơn không đúng theo quy định của pháp luật; Các hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về bảo quản, quản lý hóa đơn, gây thiệt hại cho nhà nước, đơn vị, cá nhân.
2.3.2. Hậu quả:
Dấu hiệu hậu quả, thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội vi phạm quy định về bảo quản, lưu trữ, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Người thực hiện hành vi phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây thiệt cho người, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc nhà nước từ 100.000.000 đồng trở lên. Thiệt hại về tài sản có thể là thiệt hại trực tiếp, hoặc thiệt hại gián tiếp:
Một số hậu quả cụ thể: Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước (thiệt hại tài chính thực tế); Ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát, kiểm toán thu chi ngân sách; Gây hậu quả nghiêm trọng khác như làm mất uy tín của cơ quan quản lý thuế,..
2.3.3. Mối quan hệ nhân quả:
Hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả. Nếu không có hành vi vi phạm, thiệt hại đã không xảy ra.
2.4. Mặt chủ quan
Người phạm tội có thể thực hiện với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp):
Cố ý trực tiếp: Biết hành vi vi phạm nhưng vẫn thực hiện, mặc kệ hậu quả.
Cố ý gián tiếp: Do sự thiếu trách nhiệm, cẩu thả trong công tác bảo quản, quản lý.
Chủ thể thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Người phạm tội nhận thức được hậu quả cũng như trách nhiệm của mình trong công tác lưu trữ, quản lý hóa đơn, chứng từ nhưng mong muốn vi phạm quy định để hậu quả xảy ra hoặc dù không mong muốn nhưng vẫn có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.
Động cơ, mục đích: Dấu hiệu động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc. Người phạm tội có thể thực hiện tội phạm với nhiều động cơ, mục đích khác nhau, như mục đích vụ lợi, trốn tránh các nghĩa vụ tài sản với nhà nước, che giấu những sai phạm trong việc sử dụng hóa đơn, chứng từ…
3. Mức hình phạt của Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
Căn cứ pháp lý tại Điều 204 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017, quy định về mức hình phạt đối với Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước. Theo đó, khi thực hiện các hành vi vi phạm các quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước thì sẽ bị xử phạt theo quy định pháp luật hình sự cụ thể như sau:
KHUNG HÌNH PHẠT 1: Người nào có trách nhiệm bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ mà vi phạm quy định của Nhà nước về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước hoặc cho người khác từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
KHUNG HÌNH PHẠT 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: Phạm tội 02 lần trở lên; Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Khi xét xử Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, pháp luật Việt Nam quy định một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhằm đảm bảo tính răn đe và nghiêm minh. Các tình tiết này được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) và áp dụng cụ thể cho tội này như sau:
Phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp: Hành vi được thực hiện bởi một nhóm người có sự phân công, phối hợp chặt chẽ nhằm thực hiện các hành vi cố ý không thực hiện, không thực hiện đúng các quy định của pháp luật của pháp luật về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ gây thiệt hại về tài sản cho nhà nước hoặc người khác với tính chất chuyên nghiệp cao và quy mô lớn.
Tái phạm nguy hiểm: Người phạm tội đã từng bị kết án về Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước chưa được xóa án tích mà tiếp tục vi phạm.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Người phạm tội sử dụng vị trí, quyền hạn của mình (ví dụ: cán bộ quản lý thị trường, nhân viên hải quan) để thực hiện hoặc che giấu hành vi phạm tội.
Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng: Gây thiệt hại về tài sản 500.000.000 đồng trở lên.
Vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước không chỉ là hành vi thiếu trách nhiệm, mà trong nhiều trường hợp còn là nguyên nhân dẫn đến thất thoát ngân sách nhà nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quản lý tài chính công và lòng tin của xã hội đối với bộ máy hành chính. Với việc quy định chặt chẽ trong Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), đặc biệt tại Điều 204, pháp luật hình sự Việt Nam đã cho thấy sự quyết tâm trong việc bảo vệ trật tự quản lý ngân sách nhà nước.
Trên đây là bài viết của Luật Dương Gia về “Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”. Trong trường hợp còn đang thắc mắc hoặc cần sử dụng dịch vụ, hãy liên hệ ngay với Luật Dương Gia để được tư vấn nhanh chóng và chính xác nhất.
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
Địa chỉ: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0931548999; 02367300899

