Trong một Nhà nước pháp quyền, quyền con người, đặc biệt là quyền bất khả xân phạm về thân thể, luôn được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ một cách nghiêm ngặt. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn tồn tại tình trạng một số người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng vị trí công tác để thực hiện hành vi bắt, giữ, giam người một cách trái pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng quyền tự do cá nhân và gây ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào bộ máy công quyền.
Nhằm đấu tranh và xử lý nghiêm minh hành vi này, pháp luật hình sự Việt Nam đã quy định rõ tội danh “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật” tại Điều 377 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bài viết này sẽ phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội phạm, ý nghĩa của việc xử lý tội này và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Căn cứ pháp lý
1. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật là gì?
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là hành vi của người có chức vụ, thẩm quyền theo quy định của pháp luật, đã lạm dụng quyền hạn được giao để ra lệnh, quyết định, không ra lệnh, không thực hiện hoặc cố tình thực hiện hành vi bắt, giữ, giam người trái với quy định pháp luật.
Hành vi này xâm phạm đến quyền tự do thân thể của cá nhân, thông qua việc ngăn cản, tước đoạt quyền tự do di chuyển, hoạt động của người khác mà không đúng căn cứ, thẩm quyền hoặc trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
2. Cấu thành tội phạm
– Chủ thể: Chủ thể của Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đồng thời phải là chủ thể đặc biệt theo quy định của pháp luật hình sự. Theo đó, chỉ những cá nhân giữ chức vụ, quyền hạn nhất định và có trách nhiệm pháp lý trong việc ra quyết định hoặc chấp hành quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam mới có thể là chủ thể thực hiện hành vi phạm tội này.
Những người có nghĩa vụ ra quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ là những người theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự họ phải có nghĩa vụ ra quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng; Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển (đối với người bị tạm giữ). Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử (đối với người bị giam).
Những người có nghĩa vụ chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam giữ bao gồm: Ban giám thị các nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam (trại cải tạo những người chấp hành hình phạt tù); cán bộ, chiến sĩ có nhiệm vụ canh giữ, dẫn giải người bị giam giữ (trong một số trường hợp).
– Khách thể: Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật xâm phạm đến hoạt động đúng đắn và bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, nó trực tiếp xâm phạm đến quyền nhân thân thiêng liêng của công dân, cụ thể là quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Đáng lẽ người bị bắt, giam, giữ phải được trả tự do theo quy định pháp luật, thì lại tiếp tục bị giam giữ một cách trái pháp luật. Chính hành vi này đã làm cho người bị giam, giữ trở thành đối tượng bị tác động trực tiếp của tội phạm.
Thông qua việc giam, giữ trái pháp luật những người đáng ra không còn bị giam giữ, người phạm tội đã xâm phạm nghiêm trọng đến khách thể mà pháp luật hình sự đặc biệt bảo vệ, đó là quyền con người và trật tự hoạt động tư pháp.
– Mặt khách quan:
Không ra quyết định trả tự do: Trong trường hợp không đủ căn cứ để khởi tố, truy tố hoặc đã hết thời hạn tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật mà người có thẩm quyền vẫn không ban hành quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giam.
Ra quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ pháp lý: Thực hiện việc ra quyết định bắt, giữ, giam người khi không có đủ điều kiện, căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Không chấp hành quyết định trả tự do: Mặc dù đã có quyết định hợp pháp yêu cầu trả tự do cho người bị bắt, giữ, giam, nhưng người có trách nhiệm vẫn cố tình không thi hành hoặc trì hoãn việc thực hiện.
Bắt, giữ, giam người không có lệnh hợp pháp hoặc khi lệnh chưa có hiệu lực: Tiến hành các biện pháp bắt, giữ, giam người mà không có lệnh, quyết định hợp pháp hoặc trong khi lệnh, quyết định đó chưa có hiệu lực thi hành.
Không ra quyết định gia hạn hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam đúng thời hạn: Khi đã hết thời hạn tạm giữ, tạm giam nhưng không ra quyết định gia hạn, thay thế hoặc hủy bỏ biện pháp, dẫn đến việc tiếp tục giam, giữ người một cách trái pháp luật.
– Mặt chủ quan:
Người phạm Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật thực hiện hành vi phạm tội của mình với lỗi cố ý, cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền và việc không ra quyết định trả tự do hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ như vậy là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra.
3. Trách nhiệm pháp lý của Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật
Căn cứ điều 377 bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung 2017), Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật
Điều 377. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật
– Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
+ Không ra quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật;
+ Quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của luật;
+ Không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật;
+ Thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo quy định của luật hoặc tuy có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành;
+ Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn.
– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
+ Giam, giữ trái pháp luật từ 02 người đến 05 người;
+ Làm người bị giam, giữ trái pháp luật bị tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
+ Làm người bị giam, giữ hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn;
+ Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
+ Giam, giữ trái pháp luật 06 người trở lên;
+ Làm người bị giam, giữ trái pháp luật tổn hại về sức khỏe với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc chết;
+ Làm người bị giam, giữ tự sát;
+ Làm gia đình người bị giam, giữ ly tán.
– Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật là hành vi đặc biệt nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền con người, quyền tự do thân thể của công dân – một quyền hiến định được pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt – mà còn làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan thực thi pháp luật và bộ máy công quyền. Việc xử lý nghiêm minh tội danh này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời góp phần xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân và vì dân. Trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay, việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ có chức vụ, quyền hạn là yêu cầu cấp thiết để hạn chế tối đa những hành vi vi phạm và đảm bảo sự công bằng, minh bạch trong hoạt động tư pháp.
Trên đây là bài viết của Luật Dương Gia về “Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật”. Trong trường hợp còn đang thắc mắc hoặc cần sử dụng dịch vụ, hãy liên hệ ngay với Luật Dương Gia để được tư vấn nhanh chóng và chính xác nhất.
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng
Chi nhánh Miền Trung: 67 Trần Xuân Lê, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0931548999; 02367300899

