Đã nghỉ việc nhưng đang đứng tên hộ kinh doanh có được nhận bảo hiểm thất nghiệp không?

Đã nghỉ việc nhưng đang đứng tên hộ kinh doanh có được nhận bảo hiểm thất nghiệp không?

Sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, nhiều người lao động có nhu cầu nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp. Tuy nhiên, không ít trường hợp mặc dù đã chấm dứt hợp đồng lao động nhưng vẫn đang đứng tên hộ kinh doanh đã thành lập từ trước và băn khoăn liệu điều này có ảnh hưởng đến quyền hưởng bảo hiểm thất nghiệp hay không. Vậy theo quy định pháp luật hiện hành, người đang đứng tên hộ kinh doanh có được xem là có việc làm và có đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp hay không? Hãy cùng Luật Dương Gia làm rõ trong bài viết dưới đây.

Căn cứ pháp lý:

– Luật Việc làm năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành;

– Nghị định 374/2025/NĐ – CP hướng dẫn luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp;

– Các quy định pháp luật khác có liên quan.

1. Bảo hiểm thất nghiệp là gì?

Theo khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm năm 2013, bảo hiểm thất nghiệp là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng của Nhà nước nhằm hỗ trợ người lao động khi bị mất việc làm.

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

….

4. Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp”

Cụ thể, đây là chế độ được xây dựng để bù đắp một phần thu nhập của người lao động trong thời gian chưa tìm được việc làm mới, giúp họ có điều kiện ổn định cuộc sống và giảm bớt khó khăn về tài chính sau khi chấm dứt quan hệ lao động.

Bên cạnh đó, chế độ này còn hướng đến việc tạo điều kiện để người lao động sớm quay trở lại thị trường lao động thông qua các chính sách hỗ trợ học nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm và các biện pháp duy trì việc làm theo quy định của pháp luật. Các quyền lợi này được hình thành trên cơ sở người lao động và người sử dụng lao động cùng tham gia đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.

2. Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Căn cứ Điều 49 Luật Việc làm năm 2013, người lao động muốn hưởng trợ cấp phải đáp ứng đủ các điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp sau đây:

– Đã chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

Trừ trường hợp: Đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng.

– Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.

– Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động.

– Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ cho trung tâm dịch vụ việc làm.

Trừ các trường hợp: Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an, bị tạm giam, ra nước ngoài định cư, chết,…

3. Trường hợp đã nghỉ việc nhưng đang đứng tên hộ kinh doanh có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?

Với quy định về điều kiện nêu trên, mặc dù người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động đơn vị làm việc nhưng việc đang đứng tên chủ hộ kinh doanh là một trong những căn cứ thuộc trường hợp có việc làm theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 19 Nghị định 374/2025/NĐ-CP:

“Điều 19. Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Các trường hợp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:

a) Có việc làm và thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội

Người lao động được xác định là có việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau: đã giao kết hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả tiền công, tiền lương từ 01 tháng trở lên. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động có hiệu lực theo quy định của pháp luật; có quyết định tuyển dụng hoặc bổ nhiệm đối với những trường hợp không thuộc đối tượng giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm trong trường hợp này là ngày người lao động được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm ghi trong quyết định tuyển dụng hoặc bổ nhiệm; có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đối với trường hợp người lao động là chủ hộ kinh doanh hoặc có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp người lao động là chủ doanh nghiệp. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày người lao động thông báo với tổ chức dịch vụ việc làm công về việc hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp bắt đầu hoạt động kinh doanh; đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Ngày mà người lao động được xác định là đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là ngày người lao động xuất cảnh theo quy định của pháp luật về xuất, nhập cảnh…”

Do đó, trên Giấy phép đăng ký hộ kinh doanh ghi nhận thông tin thì trách nhiệm pháp lý thuộc về chủ hộ kinh doanh. Vậy, tại thời điểm nghỉ việc, hộ kinh doanh vẫn tồn tại và hoạt động dưới tên của người lao động thì không đủ điều kiện để nhận bảo hiểm thất nghiệp.

4. Trường hợp chấm dứt hộ kinh doanh thì có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?

Theo đó, minh chứng thể hiện cho việc đã chấm dứt việc làm là một trong số các giấy tờ hoặc xác nhận khác quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định 374/2025/NĐ-CP:

“Điều 14. Nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm:

….

Bản chính hoặc bản sao có chứng thực hoặc bản chính kèm theo bản sao để đối chiếu hoặc bản điện tử của một trong các giấy tờ sau đây xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc: hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động; quyết định thôi việc; quyết định sa thải; quyết định kỷ luật buộc thôi việc; thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc; xác nhận của người sử dụng lao động trong đó có nội dung cụ thể về thông tin của người lao động; loại hợp đồng lao động đã ký; lý do, thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động; xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc doanh nghiệp hoặc hợp tác xã giải thể, phá sản hoặc quyết định bãi nhiệm, miễn nhiệm, cách chức đối với các chức danh được bổ nhiệm trong trường hợp người lao động là người quản lý doanh nghiệp, quản lý hợp tác xã; trường hợp người lao động không có các giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động do đơn vị sử dụng lao động không có người đại diện theo pháp luật và người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền thì thực hiện theo quy trình quy trình sau:

Người lao động tại đơn vị sử dụng lao động không có người đại diện theo pháp luật và người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền có nhu cầu chấm dứt hợp đồng lao động để hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp thì người lao động đề nghị Sở Nội vụ thực hiện các thủ tục để xác nhận việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

Sở Nội vụ gửi văn bản yêu cầu Sở Tài chính xác nhận đơn vị sử dụng lao động không có người đại diện theo pháp luật hoặc không có người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của người lao động.

Sở Tài chính có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thuế, cơ quan công an, chính quyền địa phương nơi đơn vị sử dụng lao động đặt trụ sở chính thực hiện xác minh nội dung đơn vị sử dụng lao động không có người đại diện theo pháp luật hoặc không có người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền.

Sở Tài chính gửi văn bản trả lời cho Sở Nội vụ về nội dung đơn vị sử dụng lao động không có người đại diện theo pháp luật hoặc không có người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu xác nhận của Sở Nội vụ.

Trường hợp người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 12 tháng thì giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động là bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng đó…”

Như vậy, khi có quyết định giải thể hộ kinh doanh, người làm động có thể nộp kèm cùng các hồ sơ theo quy định đến cơ quan có thẩm quyền để được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo khoảng thời gian đã đóng.

Với các nội dung trên, thấy rằng việc đã nghỉ việc nhưng đang đứng tên hộ kinh doanh có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp. Do đó, người lao động cần đối chiếu với quy định pháp luật hiện hành để xác định mình có đủ điều kiện hưởng chế độ này hay không, tránh làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trên đây là toàn bộ những nội dung có liên quan đến vấn đề bảo hiểm thất nghiệp. Nếu bạn đang có nhu cầu thực hiện thủ tục và cần hỗ trợ pháp lý chuyên nghiệp, hãy liên hệ ngay với Luật Dương Gia để được tư vấn nhanh chóng và chính xác nhất.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng

Chi nhánh Miền Trung: 67 Trần Xuân Lê, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

Điện thoại: 058.59.78999; 0236.7300.899

Gọi ngay
Gọi ngay