Tội lật đổ chính quyền nhân dân là một trong những tội danh đặc biệt nghiêm trọng được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, nhằm bảo vệ nền tảng chính trị, sự ổn định của Nhà nước và trật tự an toàn xã hội. Trong bối cảnh tình hình an ninh – chính trị có nhiều diễn biến phức tạp, việc hiểu rõ khái niệm, dấu hiệu pháp lý, mức hình phạt cũng như những hành vi bị xem là xâm phạm đến chính quyền nhân dân trở nên vô cùng cần thiết.
Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cái nhìn đầy đủ và dễ hiểu về tội danh này, giúp người đọc nhận diện đúng các hành vi vi phạm và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật.
Căn cứ pháp lý:
Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2025
1. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là gì?
Chính quyền nhân dân là sự thống nhất về chính trị của nhân dân, bao gồm công nhân, nông dân và trí thức yêu nước, được Đảng Cộng sản đại diện tiên phong cho giai cấp lãnh đạo.
Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân được hiểu là hành vi tham gia vào việc thành lập tổ chức hoặc tham gia các tổ chức với mục đích lật đổ chính quyền nhân dân.
Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là tội phạm được quy định chi tiết trong Bộ luật hình sự. Tội này thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia và được Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tại Điều 109 như sau:
“Điều 109. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:
- Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình;
- Người đồng phạm khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm;
- Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
2. Cấu thành Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
2.1. Về mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hoạt động “thành lập hoặc tham gia tổ chức” nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, lập đổ chính quyền từ trung ương đến địa phương của nước Việt Nam.
– Có hành vi tiến hành các hoạt động nhằm thành lập tổ chức phản động, hành vi này thể hiện qua việc vạch kế hoạt thành lập tổ chức phản động, đề ra chủ trương, đường lối hoạt động, tuyên truyền, lôi kéo, tập hợp người vào tổ chức… với mục đích nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (như: Soạn thảo cương lĩnh, điều lệ, kế hoạch, chương trình hoạt động, lời kêu gọi, tài liệu huấn luyện…). Hoạt động thành lập các tổ chức bao gồm các hoạt động chuẩn bị thành lập tổ chức, đã hoặc đang tiến hành thành lập tổ chức phản động.
– Có hành vi tham gia tổ chức phản động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Được hiểu là trường hợp có người phạm tội tuy không tham gia thành lập tổ chức phản động nhưng biết rõ mục đích của tổ chức là nhằm lật đổ chính quyền nhân dân và đã tán thành cương lĩnh, điều lệ, tự nguyện đứng vào trong hàng ngũ của tổ chức phản động đó.
2.2. Về mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Trong trường hợp này, người phạm tội đã nhận thức rõ về tính nguy hiểm của hành vi và mong muốn hậu quả xảy ra.
Mục đích: Mục đích của tội phạm là lật đổ hoặc đe dọa lật đổ chính quyền nhân dân.
2.3. Mặt khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm trực tiếp là sự tồn tại, vững mạnh của chính quyền nhân dân các cấp, từ trung ương đến địa phương. Mục tiêu cuối cùng của những hành vi này là lật đổ chính quyền nhân dân, thay đổi chế độ chính trị, kinh tế – xã hội của Việt Nam.
2.4. Về mặt chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự. Điều này có nghĩa là cả công dân Việt Nam, người nước ngoài hay người không quốc tịch đều có thể là chủ thể của tội danh này nếu họ thực hiện hành vi phạm tội.
3. Mức hình phạt đối với Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
Căn cứ Điều 109 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, quy định 3 khung hình phạt về Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền như sau:
Khung 1: phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: áp dụng đối với người phạm tội là Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng.
Trong đó, người tổ chức, người xúi giục được quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự
+ Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm
+ Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
+ Người có hoạt động đắc lực là người có hoạt động tham gia tổ chức và đã thực hiện các hành vi thể hiện sự tích cực và mức độ tham gia quan trọng của mình.
+ Người gây hậu quả nghiêm trọng là người gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho sự tồn tại của chính quyền nhân dân.
Khung 2: phạt tù từ 05 năm đến 12 năm: áp dụng đối với người phạm tội là Người đồng phạm khác.
Khung 3: phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: áp dụng đối với người chuẩn bị phạm tội này.
4. Vụ án thực tế
Vụ án 1
Vào sáng ngày 16/3/2022, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Lê Thị Kim Phi về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân,” theo quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra xác định rằng từ khoảng tháng 9/2020 đến khi bị bắt, Lê Thị Kim Phi đã sử dụng tài khoản Facebook “Phi Kim” để kết bạn với một số tài khoản Facebook là thành viên của tổ chức phản động “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời,” do Đào Minh Quân cầm đầu. Bị cáo thường xuyên theo dõi, bình luận, thích, và chia sẻ các nội dung tuyên truyền chống Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, và bôi nhọ lãnh tụ Hồ Chí Minh. Bị cáo còn tham gia “Trưng cầu dân ý” bầu Đào Minh Quân làm Tổng thống Đệ tam Việt Nam Cộng Hòa.
Tại phiên tòa, Lê Thị Kim Phi thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, chỉ vì nghe lời hứa của các tổ chức phản động mà bị cáo sẽ được hưởng những lợi ích vật chất nên đã tham gia. Sau khi xem xét toàn bộ chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã quyết định xử phạt Lê Thị Kim Phi 06 năm tù, về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật hình sự.
Bản án này được xem là một cảnh tỉnh, cảnh báo đối với những người có ý định tham gia vào các tổ chức phản động nhằm mục đích lật đổ chính quyền nhân dân, đồng thời làm rõ hậu quả nghiêm trọng của những hoạt động này đối với an ninh quốc gia và sự tồn tại phát triển vững mạnh của chính quyền nhân dân.
Vụ án 2
Bản án số 129/2018/HSPT đã được tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử vào ngày 18/4/2018. Trong vụ án này, các bị cáo gồm Nguyễn Văn Ng, Nguyễn Văn T và Huỳnh Hữu Đ đã tự nguyện làm hồ sơ xin gia nhập tổ chức phản động lưu vong “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời,” do đối tượng Trần Minh Quân tự xưng là Thủ tướng, với mục đích chống phá và lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Các bị cáo đã tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền, chống phá bằng cách in cờ ba que của chế độ Việt Nam Cộng hòa và rải truyền đơn kêu gọi để tập hợp thêm nhiều người gia nhập tổ chức. Những hành vi này được xác định là phù hợp với mặt khách quan của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Chủ thể là các bị cáo đã trên 16 tuổi, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ mục đích lật đổ chính quyền nhân dân của tổ chức phản động “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” nhưng vẫn tự nguyện gia nhập và hoạt động tích cực.
Cuối cùng, Tòa án Nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã tuyên bị cáo Huỳnh Hữu Đ 13 năm tù, Nguyễn Văn Ng và Nguyễn Văn T cùng 12 năm tù về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.
Tội lật đổ chính quyền nhân dân là hành vi đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm trực tiếp đến sự ổn định chính trị và nền tảng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc nhận thức đầy đủ các quy định pháp luật liên quan đến tội danh này không chỉ giúp mỗi cá nhân hiểu rõ trách nhiệm của mình trước pháp luật mà còn góp phần củng cố ý thức bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội.
Trên đây là bài viết của Luật Dương Gia về “Tội lật đổ chính quyền nhân dân”. Trong trường hợp còn đang thắc mắc hoặc cần sử dụng dịch vụ, hãy liên hệ ngay với Luật Dương Gia để được tư vấn nhanh chóng và chính xác nhất.
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng
Chi nhánh Miền Trung: 67 Trần Xuân Lê, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0931548999; 02367300899

