Sinh – lão – bệnh – tử là quy luật tự nhiên không thể tránh khỏi của một kiếp người. Dù muốn hay không muốn, ai trong chúng ta rồi cũng sẽ đến một ngày phải rời xa cõi đời này, để lại phía sau là gia đình, người thân và những giá trị vật chất mà bản thân đã tích lũy suốt cuộc đời. Trong bối cảnh đó, di chúc – một hình thức thể hiện ý chí cuối cùng của người đã khuất về việc định đoạt tài sản, trách nhiệm hoặc mong muốn cá nhân – trở thành một vấn đề mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc và cũng đồng thời có giá trị pháp lý rõ ràng. Di chúc không chỉ là công cụ để người mất an lòng nhắm mắt, mà còn là phương tiện để người ở lại hiểu và thực hiện đúng nguyện vọng cuối đời của họ, tránh được những tranh chấp phát sinh, mâu thuẫn đáng tiếc giữa các thành viên trong gia đình.
Từ đó, đặt ra một câu hỏi lớn cho xã hội hiện đại: Tầm quan trọng của người lập di chúc là gì? Điều kiện của người lập di chúc là gì?
Cơ sở pháp lý:
Bộ luật dân sự 2015
1. Di chúc là gì? Người lập di chúc là gì?
Di chúc: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. (Điều 624 Bộ luật dân sự 2015)
Người lập di chúc:
– Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.
– Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
(Điều 625 Bộ luật dân sự 2015)
2. Phân loại di chúc
2.1 Di chúc bằng văn bản
Quy định tại Điều 628 Bộ luật dân sự 2015 di chúc bằng văn bản bao gồm:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.
- Di chúc bằng văn bản có công chứng.
- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
2.2 Di chúc miệng
Quy định tại Điều 629 Bộ luật dân sự 2015 di chúc miệng bao gồm:
- Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
- Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
- Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
- Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
- Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
2.3 Nội dung của di chúc
Căn cứ theo quy định điều 631 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:
Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Ngày, tháng, năm lập di chúc;
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
- Di sản để lại và nơi có di sản.
- Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.
Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.
3. Điều kiện của di chúc
Theo khoản 5 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hiệu lực của di chúc như sau: Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
Để xác định được hiệu lực của di chúc cần đáp ứng đủ các yêu cầu, điều kiện của Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:
Điều kiện của người lập di chúc (Điều 625 Bộ luật dân sự 2015):
- Minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
Điều kiện về người hưởng di sản
Phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế (khoản 3 Điều 643 Bộ luật dân sự 2015) và không thuộc các trường hợp không được nhận di sản
Di chúc không được trái với quy định của pháp luật
Di chúc chỉ bắt đầu có hiệu lực sau khi người để lại di sản chết (Điều 624 Bộ luật dân sự 2015)
Di chúc miệng
Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ
Di chúc miệng phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015).
Di chúc bằng văn bản
Di chúc bằng văn bản nếu không công chứng, chứng thực cần phải đáp ứng các điều kiện của di chúc hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015
4. Di chúc được coi là không có hiệu lực khi nào?
Căn cứ Điều 643 Bộ luật dân sự 2015 di chúc được coi là có hiệu lực khi:
Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
- Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.
Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.
Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
Theo như quy định trên thì di chúc sẽ không có hiệu lực trong trường hợp người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Bên cạnh đó, nếu di sản để lại cho người thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì di chúc đó sẽ không có hiệu lực.
Ngoài ra, trường hợp di chúc có phần không hợp pháp thì phần đó cũng sẽ không có hiệu lực.
5. Vậy khi nào được phân chia tài sản?
5.1 Phân chia di sản theo di chúc thừa kế
Căn cứ vào Điều 659 Bộ luật dân sự 2015 như sau:
Phân chia di sản theo di chúc
- Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.
Theo đó, việc phân chia di sản theo di chúc sẽ được chia đều nếu như không xác định rõ phần của từng người thừa kế.
5.2 Phân chia di sản theo pháp luật
Căn cứ vào Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:
– Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.
– Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.
Có thể nói, người lập di chúc không chỉ đơn thuần là người phân chia tài sản, mà còn là người định hướng những giá trị cuối cùng của cuộc đời mình. Một bản di chúc được soạn thảo cẩn trọng không chỉ phản ánh ý chí, tâm nguyện và trách nhiệm của người để lại, mà còn là nền tảng giữ gìn sự đoàn kết, yên ấm cho gia đình sau khi họ ra đi. Trong hành động tưởng chừng chỉ mang tính pháp lý ấy là cả một sự thấu hiểu, chu toàn và lo xa – điều mà bất kỳ ai cũng nên suy nghĩ và chuẩn bị. Bởi lẽ, di chúc không chỉ là lời cuối, mà còn là cách để người ra đi tiếp tục truyền đạt tình yêu, sự công bằng và lòng trân trọng đến những người ở lại.

