Công an có được kết hôn với người theo đạo không?

Công an có được kết hôn với người theo đạo không?

Hôn nhân không phải là chuyện riêng cá nhân của hai người giữa con người yêu thương với nhau, mà còn là vấn đề xã hội, đạo đức và vấn đề pháp lý sâu rộng.Trong một xã hội hiện nay đa dạng cả về tín ngưỡng, tôn giáo lẫn quan điểm văn hóa – như Việt Nam hiện nay thì chuyện kết hôn giữa những người mang những xu hướng thế giới quan khác nhau vốn không phải là điều còn xa lạ.

Tuy nhiên, khi xét tới lực lượng vũ trang nói chung và lực lượng công an nói riêng – một ngành đặc thù được giao trọng trách bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng nền tảng xã hội vững mạnh – câu hỏi “Liệu công an có được kết hôn với người theo đạo không?” lại đặt ra nhiều tầng ý nghĩa: từ vấn đề pháp luật, luân lý, văn hóa, tín ngưỡng, đến quyền tự do cá nhân. Cần phân tích, nghiên cứu từ những góc độ cụ thể, để thấy được rằng câu trả lời không chỉ đơn giản là “được” hay “không”, mà còn liên quan tới cách ứng xử, hành xử thế nào cho phù hợp, hợp hiến, hợp pháp và hợp tình.

Căn cứ pháp lý:

– Luật hôn nhân và gia đình 2014;

– Quyết định số: 1275/2007/ QĐ-BCA

1. Quy định về đăng ký kết hôn

1.1 Điều kiện để đăng ký kết hôn

  • Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
  • Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
  • Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
  • Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
  • Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định pháp luật

Ngoài ra, thời điểm hiện tại, Nhà nước chưa thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

1.2 Các hành vi cấm kết hôn

Nhà nước cấm các hành vi kết hôn sau đây:

  • Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
  • Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
  • Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng vớingười khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng vớingười đang có chồng, có vợ;
  • Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
  • Yêu sách của cải trong kết hôn;
  • Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;
  • Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
  • Bạo lực gia đình;
  • Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

2. Các tiêu chuẩn để đăng ký kết hôn với Công an

Pháp luật không cấm cản việc hôn nhân tự nguyện tiến bộ, nhưng đối với đặc thù nghành công an thì sẽ có đặt ra những tiêu chuẩn chính trị riêng dựa theo căn cứ Quyết định số: 1275/2007/ QĐ-BCA  nhằm đảm bảo yêu cầu về bảo vệ an ninh quốc gia và bảo mật của lực lượng công an.

Bởi đây là lực lượng đặc thù có nhiệm vụ trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, với những công việc có tính chuyên môn cao, ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh, tình hình an ninh, chính trị của quốc gia. Vậy việc kết hôn với lực lượng công an cần đáp ứng những tiêu chuẩn, điều kiện khắt khe như sau:

2.1  Về tiêu chuẩn lý lịch

  • Về dân tộc thì dân tộc kinh là đạt tiêu chuẩn;
  • Về tôn giáo: Những người trong nghành an ninh, cảnh sát thì không được lấy người theo đạo Thiên chúa giáo.
  • Về kê khai lý lịch và thành phần gia đình nội ngoại 3 đời. Nếu trong gia đình bạn có một hoặc nhiều đảng viên thì thẩm tra 2 đời (Tùy thuộc vào người đi thẩm tra).
  • Đồng thời, khi kết hôn với một người trong nghành Công an, người muốn kết hôn phải kê khai lý lịch trong phạm ba đời ( Ông bà, cha mẹ, bản thân và anh chị em ruột, họ…) để thẩm tra

2.2 Về tiêu chuẩn chính trị và đạo đức

  • Có lối sống lành mạnh: Không sa đà vào những vấn đề tệ nạn xã hội ( ma túy, rượu chè, cờ bạc, mại dâm…)
  • Không có tiền án, tiền sự: Người từng bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ không được chấp nhận.
  • Tư cách đạo đức: Không có hành vi gấy rối, hành hung, thiếu đạo đức với gia đình hay xã hội.
  • Không hành nghề trái thuần phong mỹ tục: Tránh hành các nghề nhạy cảm, dễ ảnh hưởng đến hình ảnh nghành như vũ trường, tiếp thị bia rượu, livestream phản cảm….
  • Không sử dụng mạng xã hội phản cảm: Không đăng tải hình ảnh nhạy cảm, sexy, ngôn ngữ thiếu chuẩn mực, không có “quá khứ ồn ào” trên mạng xã hội.

2.3 Về các điều kiện cơ bản không lấy chồng (vợ) công an

  • Gia đình có người làm tay sai cho chế độ phong kiến; tham gia quân đội, Nguy quân, Ngụy quyền, chính quyền Sài Gòn trước năm 1975
  • Bố mẹ hoặc bản thân có tiền án hoặc đang chấp hành án phạt tù
  • Gia đình hoặc bản thân theo Đạo thiên chúa, Cơ đốc, Tin lành, Đạo Hồi, Thiên chúa Giê- su giáo….
  • Gia đình hoặc bản thân là người dân tộc gốc Hoa (người Trung Quốc)
  • Bố mẹ hoặc bản thân là người nước ngoài( kể cả đã nhập tịch Việt Nam).

3. Công an có được kết hôn với người theo đạo không?

Vậy câu hỏi đặt ra “Công an có được kết hôn với người theo đạo hay không?

3.1 Về mặt pháp luật chung

Về mặt pháp luật chung, theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, không có điều khoản nào cấm công an kết hôn với người theo tôn giáo. Luật bảo vệ quyền tự do kết hôn, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng hay thành phần xã hội.

Điều này đồng nghĩa với việc, trên phương diện pháp lý chung của Nhà nước, người theo đạo hoàn toàn có thể kết hôn với cán bộ công an, miễn là đáp ứng các điều kiện cơ bản như đủ tuổi, không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

3.2 Về quy định của ngành Công an

Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy điều ngược lại. Do đặc thù của ngành công an – nơi luôn đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa – nên có những quy định nội bộ riêng về tiêu chuẩn chính trị của cán bộ và cả người kết hôn với họ. Theo quy định nội bộ của Bộ Công an (chẳng hạn như Quyết định 1275/2007/QĐ-BCA và các văn bản hướng dẫn khác), người muốn kết hôn với công an cần được thẩm tra lý lịch ba đời.

Nếu người đó hoặc gia đình theo các tôn giáo như Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Thiên chúa giáo Giê- su…, người có dân tộc gốc Hoa, người có ba mẹ hoặc bản thân đang chấp hành án phạt từ thì thường sẽ bị đánh giá là không đủ tiêu chuẩn chính trị để kết hôn với người trong ngành công an. Quy định này không được công khai rộng rãi, nhưng vẫn đang được áp dụng trong thực tiễn tuyển dụng và thẩm tra kết hôn của lực lượng công an từ nhiều năm qua đến nay.

3.2.1 Quy định riêng khi kết hôn với lực lượng công an

Việc có quy định riêng khi kết hôn với lực lượng công an nhằm:

– Bảo vệ an ninh quốc gia và bí mật nghành: Lực lượng Công an Nhân dân là lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng và Nhà nước, giữ vai trò bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, phòng chống tội phạm và bảo vệ chế độ chính trị. Do đó:

Việc kiểm soát đối tượng kết hôn với cán bộ công an giúp ngăn chặn nguy cơ bị cài cắm, móc nối, xâm nhập tình báo hoặc phản động từ các thế lực thù địch thông qua quan hệ hôn nhân.Tránh lộ lọt thông tin mật, thông tin nội bộ hoặc chiến lược an ninh quốc gia do vô tình hay cố ý.

– Đảm bảo tính trung thành, kiên định của cán bộ ngành

– Quy định khắt khe về lý lịch, tôn giáo, quan hệ gia đình nhằm đảm bảo cán bộ công an có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng và Nhà nước, không bị ảnh hưởng bởi:

Quan điểm chính trị trái chiều từ người thân hay bạn đời.

Các hệ tư tưởng, tín ngưỡng tôn giáo có thể xung đột với tư tưởng chính trị của Đảng.

Quản lý cán bộ, giữ gìn hình ảnh và kỷ luật ngành

Việc yêu cầu người kết hôn với công an có lý lịch “sạch”, đạo đức tốt, không vi phạm pháp luật là để:

Tránh làm ảnh hưởng đến hình ảnh người cán bộ công an mẫu mực, chuẩn mực đạo đức và tư cách.

Hạn chế rủi ro từ quan hệ hôn nhân khiến cán bộ bị chi phối bởi yếu tố bên ngoài, gây ra sai phạm, vi phạm quy tắc ứng xử trong ngành.

Ngăn ngừa xung đột tôn giáo – tư tưởng trong đời sống gia đình

Một số tôn giáo có quan điểm không tương đồng với định hướng chính trị của Nhà nước, nếu kết hôn mà không kiểm soát sẽ dẫn đến:

Mâu thuẫn tư tưởng giữa vợ/chồng, ảnh hưởng đến tư tưởng của người công tác trong ngành.

Tạo ra áp lực chính trị hoặc truyền giáo không mong muốn trong nội bộ gia đình của công an.

Duy trì sự thống nhất về tư tưởng – tổ chức trong nội bộ ngành

– Cán bộ ngành công an phải phục tùng sự phân công tổ chức, chịu sự điều động, luân chuyển theo yêu cầu nhiệm vụ. Một người bạn đời không phù hợp lý lịch, tư tưởng hoặc có yếu tố nước ngoài có thể:

Cản trở sự điều động công tác, gây khó khăn cho tổ chức.

Tạo mâu thuẫn lợi ích, ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi nhiệm vụ.

Dù tình yêu vốn là điều thiêng liêng và hôn nhân là quyền tự do của mỗi cá nhân của con người, thì với những người khoác lên mình sắc phục công an, đôi khi hạnh phúc cá nhân phải nhường bước trước lý tưởng và trách nhiệm với Tổ quốc. Nhưng trong thực tế hiện nay, cán bộ công an không được phép kết hôn với người theo đạo, không phải vì phân biệt tôn giáo, mà bởi đặc thù nghề nghiệp đòi hỏi sự tuyệt đối trung thành, an toàn chính trị và tinh thần cảnh giác cao độ.

Gọi ngay
Gọi ngay