Người có tội là thuật ngữ được sử dụng trong luật hình sự để chỉ người đã thực hiện hành vi phạm tội theo quy định của Bộ luật Hình sự. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có tội là trách nhiệm pháp lý bắt buộc của các cơ quan có thẩm quyền trong tố tụng hình sự, nhằm đảm bảo công lý, phòng chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy đã có những trường hợp người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà không thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mà mình biết rõ là đã phạm tội, gây nên hậu quả nghiêm trọng, làm suy giảm lòng tin của người dân vào cơ quan tư pháp, khiến tội phạm không bị xử lý, thậm chí tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Vậy, tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là gì? Quy định của pháp luật về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội? Bài viết dưới đây của Luật Dương Gia sẽ giải đáp cho các bạn hiểu hơn đối với tội này.
Căn cứ pháp lý
Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017
1. Truy cứu trách nhiệm hình sự là gì?
Truy cứu trách nhiệm hình sự là quá trình buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm trước pháp luật hình sự. Nói cách khác, đây là việc áp dụng các thủ tục tố tụng hình sự như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, điều tra, truy tố và xét xử, nhằm đảm bảo rằng người có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, được quy định là tội phạm trong Bộ luật Hình sự phải chịu hình phạt tương ứng với hành vi đó.
Một cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự là người có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình và điều khiển hành vi đó theo ý chí. Khi cá nhân này thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự nghiêm cấm, thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây ra.
2. Các yếu tố cấu thành tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
– Chủ thể: của Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội phải đáp ứng điều kiện là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên theo quy định của pháp luật hình sự. Đây là chủ thể đặc biệt, tức là không phải bất kỳ ai cũng có thể là người phạm tội này, mà chỉ những người có thẩm quyền trong các hoạt động tố tụng hình sự như khởi tố bị can, kết luận điều tra, truy tố mới có thể là chủ thể của tội phạm này.
Những người có thẩm quyền nói trên bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên và Kiểm sát viên. Đây là những người được giao quyền thực hiện các hoạt động tố tụng trong quá trình xử lý tội phạm và có trách nhiệm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội.
– Khách thể: Việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mà theo quy định pháp luật có đủ căn cứ xác định là đã thực hiện hành vi phạm tội không chỉ làm tổn hại nghiêm trọng đến uy tín, tính nghiêm minh và hiệu lực hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, mà còn vi phạm nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hình sự: “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh”. Đây là nguyên tắc nhằm đảm bảo tính răn đe, công bằng và công lý trong xã hội. Khi một cá nhân có hành vi phạm tội nhưng lại không bị xử lý đúng theo quy định pháp luật, điều đó đồng nghĩa với việc hệ thống pháp luật đã bỏ lọt tội phạm một cách có chủ ý.
Hành vi này không chỉ đơn thuần là sai phạm về nghiệp vụ tố tụng mà còn có thể cấu thành một tội phạm độc lập, thể hiện ý chí bao che, dung túng cho tội phạm, từ đó xâm phạm trực tiếp đến lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và của công dân. Việc bỏ lọt tội phạm cũng làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào công lý và sự công bằng của pháp luật, gây ra những hậu quả lâu dài đối với trật tự, an toàn xã hội.
– Mặt khác quan:
+ Về hành vi:
Người phạm tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, có thể thực hiện một trong các hành vi sau:
Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can, không kết luận điều tra vụ án, ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra đối với người mà mình biết rõ là có tội.
Điều tra viên không lập hồ sơ vụ án; không triệu tập bị can hoặc có triệu tập nhưng không tiến hành hỏi cung và những người tham gia tố tụng khác; không quyết định áp giải bị can; không thi hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ; không tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực hiện điều tra; không tiến hành các hoạt động điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan điều tra.
Viện trưởng, Phó viện trưởng việm kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can; ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án; quyết định không phục hồi điều tra; quyết định không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra; không yêu cầu cơ quan điều tra thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, không quyết định việc truy tố.
Kiểm sát viên không kiểm sát việc khởi tố, không kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra; không đề ra yêu cầu điều tra; không triệu tập và hỏi cung bị can; không triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; không kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam; không tham gia phiên tòa; không đọc cáo trạng, quyết định của viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án; không hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện việc luận tội.
Trong quá trình tiến hành tố tụng, một số hành vi của người tiến hành tố tụng có thể chỉ cấu thành hành vi vi phạm thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, nếu những hành vi đó được thực hiện với mục đích cố ý để bỏ lọt người phạm tội hoặc bỏ lọt tội phạm thì dù bề ngoài là vi phạm tố tụng, người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, theo quy định của Bộ luật Hình sự quy định.
+ Hậu quả:
Đối với cấu thành tội danh này, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc. Tuy nhiên, trong trường hợp hành vi phạm tội gây ra hậu quả thực tế thì tùy tính chất, mức độ của hậu quả xảy ra, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật tương ứng.
Tội phạm này được xem là hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi có chủ đích nêu trên, không phụ thuộc vào việc hành vi đó đã gây ra hậu quả hay chưa.
– Mặt chủ quan:
Người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp này phải có lỗi cố ý trực tiếp. người phạm tội nhận thức rõ hành vi của người mà mình không truy cứu là hành vi phạm tội, nhưng vẫn cố tình không thực hiện trách nhiệm truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.
Cụm từ “biết rõ là có tội” trong điều luật thể hiện yêu cầu người phạm tội phải có sự nhận thức đầy đủ, chắc chắn và không nghi ngờ về việc người bị bỏ lọt là người đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, trong trường hợp người tiến hành tố tụng không biết rõ do nguyên nhân khách quan hoặc do hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, dẫn đến việc không phát hiện được hành vi phạm tội, thì không bị xem là phạm tội theo điều luật này.
3. Pháp luật quy định như thế nào đối với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
Căn cứ Điều 369 bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định về Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội.
– Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
+ Không truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng;
+ Đối với 02 người đến 05 người;
+ Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bỏ trốn hoặc thực hiện hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
+ Dẫn đến việc người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trả thù người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị hại, nhân chứng;
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
+ Đối với 06 người trở lên;
+ Không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
+ Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
+ Làm người bị hại tự sát.
– Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định rõ tại Điều 369 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đây là hành vi phạm tội của người có thẩm quyền nhưng cố ý không thực hiện trách nhiệm pháp lý đối với người mà họ biết rõ là có tội, từ đó gây nguy hại đến hiệu lực pháp luật và trật tự xã hội.
Tùy theo tính chất, mức độ nghiêm trọng và hậu quả xảy ra, người phạm tội có thể bị xử lý theo ba khung hình phạt:
– Khung cơ bản: từ 6 tháng đến 3 năm tù (khoản 1).
– Khung tăng nặng thứ nhất: từ 2 năm đến 7 năm tù nếu phạm vào các tình tiết như: không truy cứu người phạm tội rất nghiêm trọng, từ 2–5 người, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, hoặc làm người không bị truy cứu cản trở tố tụng hay trả thù (khoản 2).
– Khung tăng nặng thứ hai: từ 7 năm đến 12 năm tù nếu không truy cứu từ 6 người trở lên, liên quan đến tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng, hoặc hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như làm người bị hại tự sát (khoản 3).
Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 1 đến 5 năm (khoản 4).
Như vậy, hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội không chỉ vi phạm pháp luật hình sự mà còn đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự: “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh.”
4. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
– Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật Hình sự 2015 quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
– Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:
+ 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;
+ 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;
+ 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;
+ 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
– Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật Hình sự 2015 quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.
Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.
Trên đây là các quy định của pháp luật về tội “Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội”. Trường hợp cần hỗ trợ chi tiết về vấn đề trên, bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo số Hotline 19006568 để nhận được tư vấn.
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng
Chi nhánh Miền Trung: 67 Trần Xuân Lê, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0931548999; 02367300899

