Biên giới quốc gia là biểu tượng thiêng liêng của chủ quyền lãnh thổ, là ranh giới địa lý được pháp luật quốc tế và quốc gia xác lập nhằm bảo đảm an ninh, trật tự và toàn vẹn lãnh thổ. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, giao lưu biên giới diễn ra ngày càng sôi động thì nguy cơ xâm phạm đến an ninh, trật tự khu vực biên giới càng cao, đặc biệt khi các hành vi vi phạm quy chế về khu vực biên giới không những gây mất ổn định địa phương mà còn ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại và an ninh quốc gia.
– Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017)
Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới được quy định tại Điều 346 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là một trong những tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng. Bài viết này tập trung phân tích sâu về các yếu tố cấu thành tội phạm, bản chất pháp lý, thực tiễn áp dụng và những định hướng hoàn thiện pháp luật liên quan.
1. Khái niệm và bản chất của Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới
1.1. Khái niệm
Khu vực biên giới bao gồm:
– Khu vực biên giới trên đất liền gồm xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp biên giới quốc gia trên đất liền.
– Khu vực biên giới trên biển tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo.
– Khu vực biên giới trên không gồm phần không gian dọc theo biên giới quốc gia có chiều rộng mười kilômét tính từ biên giới quốc gia trở vào.
Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 1 Luật Biên giới quốc gia).
Vi phạm các quy định khác về khu vực biên giới là hành vi không chấp hành hoặc chấp hành không đúng các quy định về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động khác như: quay phim, chụp ảnh, ghi hình, vẽ cảnh vật; làm hư hỏng, xê dịch cột mốc biên giới, dấu hiệu đường biên giới, biển báo khu vực biên giới, vành đai biên giới, vùng cấm; làm thay đổi dòng chảy sông, suối biên giới; xâm canh, xâm cư qua biên giới; bắn súng qua biên giới, gây nổ, đốt nương rẫy trong vành đai biên giới; vượt biên giới quốc gia trái phép, chứa chấp, chỉ đường, chuyên chở, che giấu bọn buôn lậu vượt biên giới trái phép; khai thác trái phép lâm thổ sản và các tài nguyên khác; buôn lậu, vận chuyển trát phép vũ khí, chất cháy, chất nổ, chất độc hại, ma túy, văn hóa phẩm độc hại và hàng hóa cấm nhập khẩu, xuất khẩu qua biên giới. Săn bắn thú rừng quý hiếm, đánh bắt cá bằng vật liệu nổ, kích điện, chất độc và các hoạt động gây hại khác trên sông, suối biên giới; Thải bỏ các chất độc hại gây ô nhiễm môi trường hệ sinh thái; làm mất trật tự, trị an ở khu vực biên giới.
Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước về khu vực biên giới bằng hành vi vi phạm quy định về cư trú, đi lại hoặc các quy định khác về khu vực biên giới, đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
1.2. Bản chất
Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân hoặc tổ chức không tuân thủ các quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ khu vực biên giới như: xâm nhập trái phép, xây dựng công trình trái phép, thu thập thông tin, chụp ảnh, quay phim không đúng quy định, di chuyển hàng hóa, vũ khí, vật phẩm cấm… Hành vi này nếu gây hậu quả nghiêm trọng có thể cấu thành tội phạm hình sự.
Bản chất của tội phạm là hành vi xâm phạm trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ biên giới quốc gia, có khả năng đe dọa an ninh, chủ quyền và ổn định xã hội.
2. Dấu hiệu pháp lý cấu thành Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới
2.1. Chủ thể
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong một số trường hợp theo quy định pháp luật hình sự.
Cá nhân: Chủ thể của tội phạm là cá nhân đủ 16 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự
Đồng phạm: Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân thực hiện tội phạm một mình nhưng cũng có thể là nhiều người cùng thực hiện tội phạm. Trường hợp nhiều người thực hiện cùng một tội phạm được quy định theo Điều 17 Bộ luật Hình sự, quy định về đồng phạm. Theo đó, đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2.2. Khách thể
Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước về khu vực biên giới.
Cụ thể là chế độ pháp lý đặc thù được áp dụng tại khu vực biên giới để bảo đảm chủ quyền lãnh thổ và an ninh quốc gia.
2.3. Mặt khách quan
2.3.1. Hành vi khách quan:
Hành vi vi phạm quy chế về khu vực biên giới có thể biểu hiện qua các dạng cụ thể sau:
Vượt biên trái phép: cá nhân tự ý xâm nhập hoặc ra khỏi khu vực biên giới mà không làm thủ tục, không được phép theo quy định pháp luật.
Tổ chức cho người khác vượt biên trái phép hoặc che giấu hành vi vượt biên.
Xây dựng công trình trái phép trong khu vực biên giới, vi phạm quy định về mốc giới.
Mang vũ khí, chất nổ, tài liệu mật, hàng cấm vào khu vực biên giới không được phép.
Cản trở, chống đối lực lượng chức năng thực thi nhiệm vụ quản lý biên giới.
Quay phim, chụp ảnh, khảo sát trái phép khu vực biên giới.
Tùy theo từng hành vi cụ thể, mức độ và tính chất vi phạm sẽ được xem xét để xử lý hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
2.3.2. Hậu quả:
Hành vi vi phạm quy chế khu vực biên giới có thể gây ra hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp như:
Gây phương hại đến an ninh quốc gia, làm mất ổn định vùng biên giới.
Làm rối loạn hoạt động kiểm soát, giám sát của cơ quan chức năng.
Gây mâu thuẫn, tranh chấp, ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế với các nước láng giềng.
Ảnh hưởng đến đời sống nhân dân khu vực biên giới, gây tâm lý hoang mang, bất an.
Tùy vào hậu quả cụ thể xảy ra, hành vi sẽ bị đánh giá về mức độ nguy hiểm cho xã hội.
2.3.3. Mối quan hệ nhân quả:
Giữa hành vi vi phạm quy chế về khu vực biên giới và hậu quả phát sinh có mối liên hệ nhân quả rõ rệt.
Ví dụ, hành vi vượt biên trái phép mang theo tài liệu mật có thể trực tiếp gây ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng; hành vi tổ chức quay phim, khảo sát trái phép có thể dẫn đến rò rỉ thông tin chiến lược… Đây là cơ sở để khẳng định trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi.
2.4. Mặt chủ quan
Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.
Người phạm tội nhận thức rõ hành vi vi phạm quy chế khu vực biên giới là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện do động cơ khác nhau như buôn lậu, gián điệp, nhập cư trái phép, trốn tránh pháp luật hoặc đơn thuần là lợi ích vật chất.
3. Mức hình phạt của Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới
Căn cứ pháp lý tại Điều 346 Bộ luật Hình sự (sửa đổi 2017)
KHUNG HÌNH PHẠT 1. Người nào vi phạm quy định về cư trú, đi lại hoặc các quy định khác về khu vực biên giới, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
KHUNG HÌNH PHẠT 2. Tái phạm nguy hiểm hoặc phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
KHUNG HÌNH PHẠT 3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
4. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới
Khi xét xử Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới quy định một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhằm đảm bảo tính răn đe và nghiêm minh. Các tình tiết này được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) và áp dụng cụ thể cho tội này như sau:
Phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp: Hành vi được thực hiện bởi một nhóm người có sự phân công, phối hợp chặt chẽ nhằm thực hiện các hành vi vi phạm các quy định về hoạt động xuất bản với tính chất chuyên nghiệp cao và quy mô lớn.
Tái phạm nguy hiểm: Người phạm tội đã từng bị kết án về Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới và chưa được xóa án tích mà tiếp tục vi phạm.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Người phạm tội sử dụng vị trí, quyền hạn của mình để thực hiện hoặc che giấu hành vi phạm tội.
Phạm tội trong tình trạng có sử dụng ma túy, chất kích thích
Dùng thủ đoạn xảo quyệt, hung bạo để thực hiện hành vi vi phạm các quy định về quy chế khu vực biên giới
Tái phạm nguy hiểm;
Lôi kéo người dưới 18 tuổi cùng tham gia;
Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
Tùy vào từng trường hợp cụ thể, các tình tiết này có thể chuyển khung hình phạt sang mức cao hơn hoặc làm căn cứ để không cho hưởng án treo, giảm nhẹ hình phạt
Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới là hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh, chủ quyền và trật tự quốc gia. Việc quy định tội danh này trong Bộ luật Hình sự là hết sức cần thiết để bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì kỷ cương pháp luật. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa, cần có sự bổ sung hoàn thiện về mặt pháp lý và tăng cường phối hợp giữa các lực lượng chức năng, chính quyền địa phương và người dân trong bảo vệ biên giới.
Trên đây là bài viết của Luật Dương Gia về “Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới”. Trong trường hợp còn đang thắc mắc hoặc cần sử dụng dịch vụ, hãy liên hệ ngay với Luật Dương Gia để được tư vấn nhanh chóng và chính xác nhất.
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng
Chi nhánh Miền Trung: 67 Trần Xuân Lê, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0931548999; 02367300899

