Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi

toi-vi-pham-quy-dinh-ve-su-dung-nguoi-lao-dong-duoi-16-tuoi

Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang phát triển mạnh mẽ, điều này dẫn đến vấn đề về thiếu hụt nguồn lao động phổ thông diễn ra ngày càng nhiều. Theo kết quả khảo sát quốc gia về lao động chưa thành niên do Tổng cục Thống kê phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thực hiện gần đây cho thấy, Việt Nam có khoảng 1,75 triệu lao động chưa thành niên (có độ tuổi từ 5 tuổi đến 17 tuổi). Là đối tượng đặc biệt, theo đó, việc sử dụng lao động dưới 16  tuổi cần đảm bảo được thực hiện đúng, sử dụng người lao động chưa thành niên làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có thể bị xử lý hình sự theo quy định pháp luật hình sự Việt Nam.

Căn cứ pháp lý:

1. Lao động chưa thành niên là gì? Nguyên tắc sử dụng người lao động chưa thành niên?

Theo quy định tại Bộ luật Lao động, lao động chưa thành niên bao gồm những đối tượng sau:

Điều 143. Lao động chưa thành niên:

1. Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi.

2. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được làm công việc hoặc làm việc ở nơi làm việc quy định tại Điều 147 của Bộ luật này.

3. Người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành.

4. Người chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này

Vì đây là đối tượng đặc biệt, nên cần đảm bảo các nguyên tắc nhất định theo quy định pháp luật. Căn cứ theo quy định tại Điều 144 Bộ luật Lao động 2019, quy định cụ thể nguyên tắc sử dụng người lao động chưa thành niên như sau:

Điều 144. Nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên

1. Lao động chưa thành niên chỉ được làm công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách.

2. Người sử dụng lao động khi sử dụng lao động chưa thành niên có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động về các mặt lao động, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động.

3. Khi sử dụng lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ; lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khỏe định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.

4. Người sử dụng lao động phải tạo cơ hội để lao động chưa thành niên được học văn hóa, giáo dục nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

2. Thế nào là vi phạm quy định sử dụng người lao động chưa thành niên?

Sử dụng lao động chưa thành niên làm các công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc có thể gây hại đến sức khỏe và sự phát triển thông thường. Theo đó, pháp luật cấm sử dụng lao động chưa thành niên (đặc biệt là dưới 18 tuổi) để làm việc trong các công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc có thể gây hại đến sức khỏe, sự phát triển thể chất và tinh thần của họ. Các công việc như làm việc trong môi trường hóa chất, môi trường có ô nhiễm, làm việc nặng nhọc hoặc đòi hỏi sức lực vượt quá khả năng đều được coi là vi phạm.

Căn cứ theo quy định tại Điều 146, Bộ luật Lao động 2019, về thời gian làm việc của người chưa thành niên quy định như sau:

Điều 146. Thời giờ làm việc của người chưa thành niên

1. Thời giờ làm việc của người chưa đủ 15 tuổi không được quá 04 giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần; không được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm.

2. Thời giờ làm việc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm trong một số nghề, công việc theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành.

Theo đó, việc sử dụng lao động chưa thành niên làm việc thêm giờ hoặc làm việc vào ban đêm cần đảm bảo tuân thủ theo quy định pháp luật. Hiện nay quy định này được nêu rõ tại Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH. Theo đó, các ngành nghề người chưa thành niên được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm được quy định cụ thể tại khoản 1 Phụ lục V Thông tư 09/2020/TT-BLĐTBXH (có 21 nghề, công việc người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể được làm thêm giờ). Đối với quy định về các ngành nghề người chưa thành niên được phép làm vào ban đêm được quy định tại khoản 2 Phụ lục V Thông tư 09/2020/TT-BLDTBXH (có 2 nghề, công việc người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể được làm vào ban đêm)

Căn cứ theo quy định tại Điều 147, Bộ luật Lao động 2019, quy định cụ thể các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.

Điều 147. Công việc và nơi làm việc cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

Cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm các công việc sau đây:

a) Mang, vác, nâng các vật nặng vượt quá thể trạng của người chưa thành niên;

b) Sản xuất, kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc lá, chất tác động đến tinh thần hoặc chất gây nghiện khác;

c) Sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ;

d) Bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, máy móc;

đ) Phá dỡ các công trình xây dựng;

e) Nấu, thổi, đúc, cán, dập, hàn kim loại;

g) Lặn biển, đánh bắt thủy, hải sản xa bờ;

h) Công việc khác gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên.Cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm việc ở các nơi sau đây:

a) Dưới nước, dưới lòng đất, trong hang động, trong đường hầm;

b) Công trường xây dựng;

c) Cơ sở giết mổ gia súc;

d) Sòng bạc, quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở tắm hơi, cơ sở xoa bóp; điểm kinh doanh xổ số, dịch vụ trò chơi điện tử;

đ) Nơi làm việc khác gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên.

Theo đó, người sử dụng lao động chỉ có thể sử dụng người lao động chưa thành niên làm các công việc phù hợp với độ tuổi, sức khỏe của người lao động. Vi phạm quy định sử dụng lao động chưa thành niên là hành vi sử dụng những người lao động chưa thành niên làm việc trái với các quy định của pháp luật về độ tuổi lao động, thời gian lao động, điều kiện về môi trường lao động và vấn đề bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên theo quy định pháp luật.

3. Vi phạm quy định sử dụng người lao động chưa thành niên bị xử lý thế nào?

Căn cứ quy định tại khoản 98 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/ QH13 (Điều 296 Văn bản hợp nhất Số 01/VBHN-VPQH Bộ luật Hình sự 2017), quy định về vi phạm quy định về lao động chưa thành niên

Điều 296. Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổiNgười nào sử dụng người lao động dưới 16 tuổi làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.

2, Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Làm chết người;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo quy định trên, người sử dụng lao động chưa thành niên làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Hình sự 2017. Pháp luật quy định về danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm tại Thông tư 11/2020/TT-BLĐTBXH.

Căn cứ theo quy định pháp luật có thể xác định được khung hình phạt đối với Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi cụ thể như sau:

– Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với những trường hợp sau: Phạm tội 02 lần trở lên; Làm chết người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

– Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm đối với những trường hợp sau: Làm chết 02 người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.

– Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Vi phạm quy định sử dụng người lao động dưới 16 tuổi là bao lâu ?

Căn cứ tại Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015, quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự:

Điều 27. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Căn cứ tại điểm a khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015, quy định về phân loại tội phạm:

Điều 9. Phân loại tội phạm

1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

Vậy căn cứ theo quy định pháp luật có thể xác định Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi tại khoản 1 Điều 296 Bộ luật Hình sự 2015 được xem là tội phạm ít nghiêm trọng và có thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 05 năm tính từ ngày tội phạm được thực hiện.

Vậy việc sử dụng lao động dưới 16 tuổi không đảm bảo quy định là một hành vi vi phạm pháp luật, có thể gây hậu quả lâu dài đối với sự phát triển của người chưa thành niên. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định rõ ràng về việc bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên trong lĩnh vực lao động, tuy nhiên, để đảm bảo sự tuân thủ, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội và cộng đồng. Việc bảo vệ người chưa thành niên khỏi tình trạng lao động trái phép  không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân và tổ chức mà còn là một nghĩa vụ quan trọng đối với sự phát triển bền vững của xã hội.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG

Địa chỉ: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng

Điện thoại: 0931548999; 02367300899

Gọi ngay
Gọi ngay