Hiện nay, trong thời đại công nghệ phát triển, các hành vi nhằm mục đích xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người khác ngày càng mở rộng về phạm vi và phương thức trên không gian mạng, mạng xã hội, các hội nhóm và việc sử dụng công nghệ thông tin để phạm tội khó xử lý và giải quyết hậu quả hơn so với các hình thức truyền thông trước đây. Hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác tùy thuộc vào tính chất và hậu quả của hành vi mà mức độ xử phạt từ phạt hành chính cho đến phạt tù.
Vậy tội danh này được quy định như thế nào? Mục hình phạt ra sao? Cùng Luật Dương Gia tìm hiểu chi tiết trong bài viết dưới đây.
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng
Chi nhánh Miền Trung: 67 Trần Xuân Lê, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0931548999; 02367300899
1. Khái niệm và bản chất của tội làm nhục người khác.
Khái niệm: Tội làm nhục người khác được Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tại Điều 155 như sau:
“Điều 155. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Làm nạn nhân tự sát.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
– Bản chất của tội phạm:
Từ quy định trên có thể thấy rõ bản chất chủ thể của “Tội làm nhục người khác” là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Hành vi xúc phạm là hành vi dùng lời nói hoặc hành động (có thể bao gồm lăng mạ, sỉ nhục công khai, hoặc hành động như cắt tóc, lột quần áo trước đám đông) nhằm xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác, gây ra cảm giác xấu hổ, nhục nhã cho nạn nhân trước sự chứng kiến của nhiều người.
2. Cấu thành tội làm nhục người khác
Để xác định một hành vi có cấu thành tội phạm này hay không, cần phải xem xét các yếu tố cấu thành tội phạm, bao gồm: chủ thể, khách thể, mặt khách quan của tội phạm, và mặt chủ quan của tội phạm
2.1. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này là người đủ 16 tuổi trở lên
2.2. Khách thể của tội phạm
Đối với tội “Làm nhục người khác”, khách thể trực tiếp bị xâm phạm cũng là quyền được tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người.
2.3. Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội “Làm nhục người khác” là hành vi của một người có tính chất xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.
Hành vi làm nhục có thể bằng lời nói, như: chửi rủa, sỉ nhục, miệt thị… hoặc hành động khác như: viết, vẽ, nhổ nước bọt vào mặt, ném phân, cà chua, trứng thối vào người, lột trần truồng nạn nhân,…
Đặc trưng của hành vi có thể được thực hiện trực tiếp và công khai khi có mặt nạn nhân hoặc vắng mặt nạn nhân thông qua sử dụng mạng máy tính, phương tiện điện tử nhưng người phạm tội có ý thức để nạn nhân biết về hành vi đã xảy ra.
Tội “Làm nhục người khác” là tội phạm mà pháp luật hình sự quy định có cấu thành hình thức. Tội phạm được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội có lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác.
Mặt khách quan của tội phạm còn được biểu hiện qua các nội dung khác, như: phương pháp, phương tiện, công cụ phạm tội, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội… Đối với tội “Làm nhục người khác” những biểu hiện vừa nêu không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, đây là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đồng thời có thể là tình tiết định khung tăng nặng.
2.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Tội “Làm nhục người khác” được thực hiện với lỗi cố ý, người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện hành vi đó. Người phạm tội biết được việc làm của mình là làm nhục người khác nhằm thỏa mãn sự tức giận, sự đố kỵ hoặc mục đích cá nhân khác đối với nạn nhân hoặc đối với người thân của nạn nhân. Người phạm tội mong muốn hoặc để mặc hậu quả xấu về nhân phẩm, danh dự của nạn nhân xảy ra.
Ý thức chủ quan của người phạm tội lúc này là mong muốn cho người bị hại bị nhục với nhiều động cơ khác nhau, có thể là để trả thù (trả thù chính người bị hại cũng có thể trả thù người thân của người bị hại).
3. Mức hình phạt tội làm nhục người khác
Căn cứ Điều 155 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 (được sửa đổi bởi điểm e, khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự 2017), quy định 3 khung hình phạt về Tội làm nhục người khác:
- Khung 1: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 03 năm: : áp dụng đối với người phạm tội xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác
- Khung 2: Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm: áp dụng đối với người phạm tội thực hiện một trong các hành vi: Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với 02 người trở lên; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Đối với người đang thi hành công vụ; Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình; Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội; Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
- Khung 3: Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Làm nạn nhân tự sát.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Ngoài ra, người có hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt vi phạm hành chính với các mức phạt được quy định tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP:
– Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người có hành vi khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác. (Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP);
– Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ (điểm b khoản 2 Điều 21 Nghị định 144/2021/NĐ-CP);
– Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình. (Căn cứ Khoản 1 Điều 54 Nghị định 144/2021/NĐ-CP);
– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm; Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình; Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân. (Căn cứ Khoản 2 Điều 54 Nghị định 144/2021/NĐ-CP).Tính chất nghiêm trọng của tội làm nhục người khác
– Tội làm nhục người khác là một trong những tội được pháp luật Việt Nam đánh giá là tội phạm nghiêm trọng và cần được xử lý nghiêm khắc, thể hiện qua nhiều khía cạnh:
+ Gây hậu quả lâu dài và không thể khắc phục: Nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng về mặt thể chất và tâm lý, khó khăn trong việc hòa nhập xã hội.
+ Gây bức xúc và mất ổn định xã hội: Việc lợi dụng mạng xã hội để làm nhục người khác làm gia tăng nguy cơ phạm tội, phá vỡ trật tự xã hội.
+ Mức hình phạt cao trong nhóm các tội phạm khác xâm phạm trật tự công cộng: Hình phạt có thể lên đến 05 năm tù, thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước trong việc bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người.
5. Vai trò của luật sư trong vụ án Làm nhục người khác
Trong các vụ án về tội làm nhục người khác, luật sư đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan:
– Đối với bị hại: Luật sư giúp gia đình và bị hại thu thập chứng cứ, tham gia bảo vệ quyền lợi tại các giai đoạn tố tụng, yêu cầu bồi thường thiệt hại, đồng thời bảo đảm việc điều tra và xét xử diễn ra đúng pháp luật và bảo vệ tối đa quyền lợi của mình.
– Đối với bị can, bị cáo: Luật sư tham gia bào chữa, giải thích quyền lợi hợp pháp, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ (nếu có), đảm bảo không xảy ra oan sai trong quá trình điều tra và xét xử.
– Đảm bảo công bằng và khách quan: Luật sư hỗ trợ cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá chứng cứ và tình tiết vụ án một cách khách quan, tránh việc xử lý sai người, sai tội danh hoặc bỏ lọt tội phạm.
– Nâng cao nhận thức pháp luật và phòng ngừa: Ngoài việc tham gia giải quyết vụ án, luật sư có thể hỗ trợ truyền thông pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng và giảm nguy cơ phạm tội, phá vỡ trật tự xã hội.
Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc pháp luật hình sự và quy trình tố tụng, Luật Dương Gia cam kết cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo hoặc thân nhân của họ. Chúng tôi tham gia từ giai đoạn điều tra, hỗ trợ xây dựng chiến lược bào chữa hợp pháp, hợp lý, góp phần giúp khách hàng tiếp cận được sự bảo vệ pháp lý đúng đắn trong những vụ án có tính chất phức tạp và nhạy cảm.
Luật Dương Gia – Đồng hành cùng khách hàng trong mọi vụ án hình sự, kể cả những vụ án đặc biệt nghiêm trọng nhất.

