Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

toi-khong-cuu-giup-nguoi-dang-o-trong-tinh-trang-nguy-hiem-den-tinh-mang

Trong đời sống xã hội, các tình huống khẩn cấp đe dọa trực tiếp đến tính mạng con người xảy ra không hề ít. Tai nạn giao thông, tai nạn lao động, trẻ em bị bỏ rơi, người già đột quỵ, nạn nhân bị bạo hành… là những trường hợp đòi hỏi sự can thiệp kịp thời từ cộng đồng. Tuy nhiên, không phải lúc nào người chứng kiến cũng thực hiện hành vi cứu giúp, dù có khả năng hoặc thậm chí có nghĩa vụ phải làm. Pháp luật hình sự ghi nhận những hành vi bỏ mặc trong các tình huống như vậy là hành vi nguy hiểm cho xã hội và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nhằm bảo vệ quyền sống – quyền nhân thân cao nhất của con người – Bộ luật Hình sự đã thiết lập tội danh “Không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng” tại Điều 132. Đây là tội phạm đặc thù, cấu thành bởi hành vi “không hành động” trong khi chuẩn mực pháp lý và chuẩn mực xã hội yêu cầu phải hành động. Việc nhận diện đúng tội danh, hiểu rõ các yếu tố cấu thành và hậu quả pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cá nhân, tổ chức và cả cơ quan tiến hành tố tụng.

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

1. Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng được quy định tại Điều 132 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đây là tội phạm xâm phạm quyền được bảo vệ tính mạng của con người bằng hành vi không hành động. Đây là trường hợp chủ thể nhận thức rõ người khác đang lâm vào tình trạng nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng hoặc nguy cơ gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, đồng thời có điều kiện khách quan để cứu giúp hoặc có nghĩa vụ phải cứu giúp nhưng cố ý không thực hiện, dẫn đến hậu quả chết người.

2. Không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là gì?

Không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là hành vi cố ý không thực hiện việc cứu giúp một người mà mình có nghĩa vụ hoặc có khả năng cứu giúp theo điều kiện thực tế. Tình trạng nguy hiểm ở đây là nguy cơ chết người hoặc nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe nếu không được cấp cứu hoặc hỗ trợ kịp thời.

Ví dụ điển hình gồm: không cấp cứu người bị tai nạn giao thông; bỏ mặc trẻ em, người già, người bị bệnh trong tình trạng cần cứu giúp; hoặc người có nghĩa vụ cứu giúp theo chức trách như giáo viên, bảo mẫu, nhân viên y tế, người đang điều khiển phương tiện đã gây tai nạn nhưng cố tình bỏ trốn.

3. Cấu thành tội phạm

3.1. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan thể hiện ở hành vi không cứu giúp trong khi có khả năng cứu giúp. Điều luật chia thành ba trường hợp:

– Hành vi không hành động: Đặc trưng của tội danh này là hành vi không hành động trong hoàn cảnh pháp luật yêu cầu phải có hành động cứu giúp. Chủ thể có nghĩa vụ phải cứu giúp nhưng đã không thực hiện, mặc dù hoàn toàn có thể hành động. Việc không hành động có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như tâm lý sợ liên lụy, thờ ơ, thiếu ý thức trách nhiệm hoặc do định kiến, quan niệm xã hội lạc hậu.

– Tình trạng nguy hiểm đến tính mạng: được hiểu là trạng thái mà tính mạng của một người đang bị đe dọa trực tiếp bởi một sự kiện gây nguy cơ tử vong nếu không được can thiệp kịp thời. Tình trạng nguy hiểm có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân:

  • Nguyên nhân khách quan: tai nạn giao thông, đuối nước, cháy nổ, ngộ độc;

  • Nguyên nhân chủ quan từ phía nạn nhân: tự gây thương tích hoặc tai nạn do thiếu kỹ năng;

  • Nguyên nhân do hành vi của người khác: vô ý hoặc cố ý tạo ra tình trạng nguy hiểm.

– Tuy có điều kiện mà không cứu giúp: Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để định tội. “Có điều kiện” được hiểu là người chứng kiến có khả năng thực tế để thực hiện hành vi cứu giúp mà không gây nguy hiểm nghiêm trọng cho bản thân hoặc người xung quanh. Việc đánh giá phải đặt trong bối cảnh cụ thể tại thời điểm xảy ra sự kiện và cần xem xét hai nhóm yếu tố:

  • Yếu tố chủ quan: năng lực, kỹ năng, chuyên môn (ví dụ biết bơi, có kỹ năng sơ cứu, có chuyên môn y tế…);

  • Yếu tố khách quan: phương tiện, công cụ và điều kiện thực tế (ví dụ có xuồng, có phao cứu hộ, có người hỗ trợ, có phương tiện cấp cứu…).

Ở các trường hợp này, hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc đối với cấu thành tội phạm cơ bản. Quan hệ nhân quả giữa hành vi không cứu giúp và hậu quả chết người phải được chứng minh.

3.2. Mặt khách thể của tội phạm

Khách thể của tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là quyền sống, quyền được Nhà nước bảo hộ về tính mạng của con người và trách nhiệm của công dân trong việc cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm.

3.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng với lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp.

Người phạm tội biết rõ người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng nếu không cứu được thì sẽ chết và biết rõ mình có điều kiện cứu mà cố tình không cứu. Nếu còn nhận thức không rõ ràng tình trạng của nạn nhân hoặc khả năng của mình thì không coi là phạm tội. Ví dụ: Một bác sĩ vì trình độ non kém không xác định được bệnh nhân đau ruột thừa cấp tính nên không mổ do đó bệnh nhân bị chết.

3.4. Mặt chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là người từ đủ 16 tuổi trở lên và không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh lý khác dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Đồng thời, để cấu thành tội phạm này, chủ thể phải là người có đủ điều kiện thực tế để thực hiện việc cứu giúp nạn nhân (ví dụ: có mặt tại hiện trường, có khả năng cứu giúp mà không gây nguy hiểm đến tính mạng của chính mình).

4. Khung hình phạt

Quy định của Điều 132 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng được phân chia thành các khung hình phạt như sau:

– Khung 1: Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

– Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm; Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp.

– Khung 3: Phạm tội dẫn đến hậu quả 02 người trở lên chết, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

– Hình phạt bổ sung: Người phạm tội cũng có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc cụ thể trong khoảng từ 01 năm đến 05 năm.

5. Các vụ án điển hình

Vụ án 1: bản án số 11/2019/HSST của TAND thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, xét xử bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng”, nội dung như sau:

S điều khiển xe máy trên đường thì S thấy anh C đang nằm trên giữa làn đường dành cho xe cơ giới và xe thôi sơ. Do trời tối và bị đèn xe làm loá mắt nên S không phanh kịp và đâm xe vào anh C. Do quá sợ hãi nên S dựng xe lên và bỏ đi, nhưng do thấy mất chìa khoá xe múc nên S quay lại chỗ anh C nằm, thì S thấy một xe ô tô tông qua người anh C. S lại lấy chìa khoá rồi đuổi theo xe ô tô tại trạm xăng nhưng không nói gì và bỏ về nhà. Kết quả anh C chết do chấn thương sọ não.

TAND cấp sơ thẩm nhận định: tại thời điểm S đâm vào bị hại, bị hại chưa chết mà chỉ bị thương ở chân, tỷ lệ thương tích là 21%. Bị hại chết là do xe ô tô cán qua người. Đáng lẽ bị cáo phải cứu giúp bị hại, đưa bị hại vào lề đường, nơi an toàn nhưng bị cáo lại bỏ mặt bị hại ngay giữa lòng đường, nơi thường xuyên có xe ô tô, cơ giới lưu hành giữa đêm khuya. Toà án đã xử phạt bị cáo S hình phạt: cảnh cáo.

Vụ án 2: bản án số 08/2020/HS-ST của TAND huyện Lak, tỉnh Dak Lak, xét xử Triệu Thị N về hành vi Không cứu giúp người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, nội dung như sau:

Chồng bị cáo đi uống rượu về vào phòng ngủ. Đến nửa đêm thì nôn ói, bị cáo vào xem thì ngửi thấy mùi thuốc trừ sâu và thấy chai thuốc trong góc phòng. Bị hại người đã tím tái, miệng không nói được và nôn ói ra giường nồng nặc mùi thuốc trừ sâu.

Tuy nhiên, N không gọi người đến giúp đưa chồng đi cấp cứu mà chỉ dọn chỗ ói, ngồi cạnh chồng, pha nước chanh đường cho uống. Đến khoảng 3h thì N gọi điện cho người thân bên chồng thông báo chồng uống thuốc sâu và sáng đến lo hậu sự. Đến khoảng 6h, N thấy chồng tím tái, co cứng, còn thở thoi thóp, khó qua khỏi, nhưng thấy nhà không có tiền nên cũng không kêu gọi giúp đỡ mà chỉ nói con nấu cháo đút cho chồng ăn. Đến 11h thì bị hại tử vong. Toà án nhận định, nhận thấy anh D uống thuốc trừ sâu và đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và có các điều kiện về phương tiện, vật chất hoặc kêu gọi mọi người giúp đỡ đưa anh D đi cấp cứu nhưng N không có lời nói để cứu giúp hoặc nhờ người khác cứu giúp mà bỏ mặc anh D nằm trên giường. Hậu quả là anh D đã tử vong lúc 11h cùng ngày. N bị xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ.

Trên đây là nội dung bài viết của Luật Dương Gia về “Tội Không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng” Nếu có bất kì khó khăn hay vướng mắc gì trong quá trình tham khảo và áp dụng quy định trên, hãy liên hệ với chúng tôi theo số Hotline 0931548999 để được tư vấn và hỗ trợ sớm nhất.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng

Chi nhánh Miền Trung: 67 Trần Xuân Lê, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

Điện thoại: 0931548999; 02367300899

Gọi ngay
Gọi ngay