Trong nhà nước pháp quyền, mọi hành vi nhân danh pháp luật đều phải đặt dưới sự giám sát và giới hạn của pháp luật. Việc thi hành công vụ – dù nhằm mục đích bảo vệ trật tự xã hội, phòng chống tội phạm hay thực thi quyền lực công – không đồng nghĩa với việc được miễn trừ trách nhiệm khi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân.
Thực tiễn cho thấy, không ít trường hợp cá nhân lợi dụng hoặc vượt quá giới hạn của quyền hạn được giao, dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như làm chết người. Trong bối cảnh đó, tội “Làm chết người trong khi thi hành công vụ” không chỉ là một chế tài hình sự nhằm xử lý cá nhân vi phạm, mà còn thể hiện nguyên tắc thượng tôn pháp luật, bảo đảm sự cân bằng giữa quyền lực nhà nước và quyền con người. Việc nghiên cứu tội danh này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn, nhất là trong công cuộc xây dựng một nền tư pháp công bằng, dân chủ và tiến bộ.
Căn cứ pháp lý: Điều 127 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2025
Điều 127. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ
1. Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
1. Khái niệm và ý nghĩa pháp lý của Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ
1.1 Khái niệm
Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ là một tội danh trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, áp dụng đối với những người được nhà nước trao quyền để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án (ví dụ: bắt giữ tội phạm, cưỡng chế, giải tán đám đông gây rối…), nhưng đã có hành vi vượt quá giới hạn cho phép về quyền hạn, biện pháp hoặc mức độ cần thiết, dẫn đến hậu quả làm chết người trong lúc thi hành công vụ.
Ví dụ: Một nhóm cán bộ quản lý thị trường đang thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử lý các hộ buôn bán lấn chiếm lòng lề đường tại khu chợ địa phương.
Trong quá trình cưỡng chế, có một người dân chống đối, cãi vã và không chịu thu dọn hàng hóa. Một cán bộ quản lý thị trường đã dùng gậy cao su đánh liên tiếp vào lưng và đầu người này, mặc dù tình huống không thực sự nguy hiểm hoặc cần thiết đến mức phải sử dụng vũ lực như vậy.
Sau khi bị đánh, người dân ngất xỉu và được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong do chấn thương sọ não.
1.2 Ý nghĩa pháp lý của Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ
Tội danh này không chỉ nhằm xử lý hành vi gây hậu quả chết người của người thi hành công vụ, mà còn mang nhiều giá trị pháp lý và xã hội quan trọng, thể hiện ở các khía cạnh sau:
– Bảo đảm tính mạng, quyền con người được pháp luật bảo vệ tuyệt đối
- Hiến pháp Việt Nam và các điều ước quốc tế đều khẳng định quyền sống là quyền tối cao và thiêng liêng nhất của con người.
- Điều luật này giúp ngăn chặn sự lạm quyền của người thi hành công vụ trong việc sử dụng vũ lực, công cụ hỗ trợ… dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.
- Việc quy định rõ trách nhiệm hình sự cho hành vi làm chết người ngay cả khi đang thi hành công vụ cho thấy tính nghiêm minh và bình đẳng trước pháp luật, không ai có quyền xâm phạm đến tính mạng của người khác một cách tùy tiện.
– Khẳng định nguyên tắc “pháp chế xã hội chủ nghĩa” trong thi hành công vụ
- Những người được giao thực hiện công vụ như công an, bộ đội, quản lý thị trường, kiểm lâm… có quyền hạn đặc biệt, nhưng đồng thời phải chịu sự kiểm soát pháp lý chặt chẽ.
- Điều luật này nhấn mạnh rằng: quyền lực phải đi kèm với trách nhiệm và giới hạn, không thể dùng “thi hành công vụ” như một cái cớ để gây ra hậu quả nghiêm trọng.
- Đây là một công cụ pháp lý giám sát quyền lực trong khuôn khổ pháp luật, tránh hiện tượng lạm quyền, bạo lực công vụ, hoặc hành vi thô bạo trái quy định.
– Bảo vệ tính đúng đắn và hợp pháp của hoạt động thi hành công vụ
- Pháp luật luôn bảo vệ người thi hành công vụ chính đáng. Tuy nhiên, nếu họ vượt quá giới hạn pháp luật cho phép, thì phải chịu trách nhiệm.
- Điều luật giúp phân định rõ ràng ranh giới giữa hành vi thi hành công vụ hợp pháp và hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
- Nhờ đó, điều luật góp phần làm trong sạch lực lượng công quyền, nâng cao chất lượng hoạt động thi hành công vụ.
– Góp phần giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm trong lực lượng chức năng
- Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người làm chết người khi thi hành công vụ có tác dụng răn đe trực tiếp đối với những người đang hoặc sẽ làm trong các cơ quan thi hành công vụ.
- Đồng thời, đây cũng là bài học mang tính cảnh báo đối với toàn xã hội: bất kỳ ai, dù ở vị trí quyền lực nào, cũng không được đứng trên pháp luật.
- Qua đó, điều luật góp phần xây dựng một nền hành pháp chuyên nghiệp, có đạo đức, có kỷ luật và trách nhiệm.
– Góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào pháp luật và nhà nước
- Người dân sẽ cảm thấy yên tâm hơn khi biết rằng: Nếu bị xâm hại tính mạng bởi hành vi trái luật của người thi hành công vụ, họ vẫn được pháp luật bảo vệ và công lý sẽ được thực thi.
Đây là yếu tố cốt lõi giúp củng cố niềm tin vào công lý, vào pháp luật, và vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
2. Yếu tố cấu thành tội phạm Tội làm chết người trong thi hành công vụ
2.1 Về mặt chủ thể
Chủ thể của tội làm chết người trong khi thi hành công vụ là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi theo luật định. Ngoài ra, họ còn phải là những người đang thi hành công vụ nói chung như: người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao.
Mặt khác, đó cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ như: tuần tra, canh gác, bảo vệ theo kế hoạch của các cơ quan có thẩm quyền hoặc công dân, vì lợi ích chung của xã hội.
2.2 Về mặt chủ quan
– Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý hoặc vô ý. Người phạm tội cố ý đối với hành vi dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép nhưng không mong muốn cho hậu quả xảy ra, để mặc cho hậu quả xảy ra hoặc tin rằng hậu quả chết người không xảy ra.
– Động cơ phạm tội là bảo vệ trật tự, trị an cho xã hội, mong muốn thực hiện tốt công vụ của mình. Nếu họ thực hiện hành vi nói trên do hống hách, coi thường tính mạng, sức khỏe người khác mà sử dụng vũ lực một cách bừa bãi, ẩu tả hoặc do tư thù cá nhân, thì tùy chỉnh tình hình của sự việc có thể xử lý về Tội giết người (quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự 2015), đồng thời, có xem xét hoàn cảnh và dộng cơ phạm tội để cân nhắc tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ trong khung các điều luật được áp dung.
2.3 Về mặt khách thể
Khách thể của tội danh này là quyền sống của con người, một quyền cơ bản và thiêng liêng nhất được Hiến pháp và pháp luật bảo hộ. Hành vi xâm phạm trực tiếp đến quyền sống này, gây ra hậu quả và cái chết của nạn nhân.
2.4 Về mặt khách quan
– Hành vi làm chết người do việc dùng vũ lực quá sức mạnh thực hiện khi đang thi hành công vụ, hành vì dùng vũ lực có thể dùng tay không, hoặc công cụ, phương tiện phạm tội (súng, lựu đạn, dùi cui,…).
– Hành vi dùng vũ lực ngoài các trường hợp pháp luật cho phép là việc dùng vũ lực trái với các quy định của pháp luật trong khi thi hành công vụ.
– Hành vi làm chết người này phải được thực hiện trong khi thi hành công vụ.
Nếu trong quá trình thi hành công vụ mà phải chống trả lại sự tấn công trái pháp luật của nạn nhân thì không thuộc tội phạm này mà thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
3. Hình phạt đối với Tội làm chết người trong thi hành công vụ
Theo quy định tại Điều 127 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 thì với Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ, hình phạt chính duy nhất được áp dụng là phạt tù có thời hạn. Tùy vào mức độ, tình tiết mà có thể phạt tù. Cụ thể khung hình phạt được quy định như sau:
Khung 1: Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.
Khung 3: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Bên cạnh đó, tùy vào tình tiết tăng nặng hay tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51, Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025 mà chủ thể có thể đực giảm nhẹ hoặc tăng cao hơn so với khung hình phạt.
Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ không chỉ là một hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng, mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy sâu sắc và lâu dài đối với nền tư pháp cũng như đời sống xã hội. Khi quyền lực nhà nước – vốn được trao để bảo vệ trật tự, an toàn xã hội và quyền con người – bị lạm dụng hoặc sử dụng sai mục đích, hậu quả không chỉ dừng lại ở việc một sinh mạng bị tước đoạt, mà còn làm tổn thương nghiêm trọng đến các giá trị cốt lõi của pháp quyền. Niềm tin của nhân dân vào công lý, vào sự công bằng và tính liêm chính của bộ máy công quyền từ đó bị xói mòn, thậm chí có thể dẫn đến sự hoài nghi, bất ổn và phản ứng tiêu cực trong xã hội.
Đây chính là ranh giới mong manh nhưng vô cùng quan trọng giữa việc thực thi pháp luật một cách chính đáng và việc chà đạp lên các quyền cơ bản của con người. Nếu ranh giới này bị vượt qua mà không được phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh, thì pháp luật sẽ mất đi ý nghĩa bảo vệ công lý, còn quyền lực công vụ sẽ trở thành công cụ gây tổn hại thay vì phục vụ nhân dân.
Vì vậy, việc nhận thức đúng đắn về tính nguy hiểm của loại tội phạm này, tăng cường trách nhiệm của người thi hành công vụ, cũng như hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực là yêu cầu hết sức cấp thiết.
Xử lý nghiêm minh các hành vi làm chết người trong khi thi hành công vụ không chỉ nhằm trừng phạt người vi phạm, mà quan trọng hơn là để khẳng định nguyên tắc thượng tôn pháp luật: mọi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không ai được đứng trên pháp luật. Đồng thời, công tác phòng ngừa thông qua giáo dục đạo đức công vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức pháp luật và tinh thần tôn trọng quyền con người cho đội ngũ cán bộ, công chức cũng cần được chú trọng. Chỉ khi quyền lực luôn được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật, và con người luôn được bảo vệ bởi công lý và lương tri, thì nhà nước pháp quyền mới thực sự văn minh, tiến bộ và nhận được sự tin tưởng bền vững từ nhân dân.

