Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

toi-xam-pham-quyen-so-huu-cong-nghiep

Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng hiện nay, tài sản trí tuệ, trong đó có quyền sở hữu công nghiệp, ngày càng đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Các quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý… không chỉ là thành quả của sự sáng tạo mà còn là nền tảng để doanh nghiệp khẳng định thương hiệu, năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ đó, hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp diễn biến ngày càng phức tạp, với nhiều thủ đoạn tinh vi, gây tổn thất lớn cho các chủ thể quyền, làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư và cản trở sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Vì vậy, pháp luật Việt Nam, bên cạnh các chế tài dân sự và hành chính, đã thiết lập chế tài hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp được quy định cụ thể tại Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Luật sở hữu trí tuệ 2005

1. Khái niệm, hành vi và bản chất Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

1.1. Khái niệm

Căn cứ pháp lý tại khoản 4 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là các hành vi trái phép xâm phạm quyền và lợi ích của chủ thể sở hữu đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

1.2. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

Căn cứ pháp lý tại Điều 126, 127, 129 Luật sở hữu trí tuệ 2005

– Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:

+ Sử dụng sáng chế được bảo hộ, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đó, thiết kế bố trí được bảo hộ hoặc bất kỳ phần nào có tính nguyên gốc của thiết kế bố trí đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu;

+ Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời quy định tại Điều 131 của Luật này.

– Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh:

+ Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh đó;

+ Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;

+ Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm bộc lộ bí mật kinh doanh;

+ Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp phép kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan có thẩm quyền;

+ Sử dụng, bộc lộ bí mật kinh doanh dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được có liên quan đến một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này;

+ Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật quy định tại Điều 128 của Luật này.

– Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

+ Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;

+ Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

+ Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;

+ Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

– Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ:

+ Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm mặc dù có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý, những sản phẩm đó không đáp ứng các tiêu chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý;

+ Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm tương tự với sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý nhằm mục đích lợi dụng danh tiếng, uy tín của chỉ dẫn địa lý;

+ Sử dụng bất kỳ dấu hiệu nào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó làm cho người tiêu dùng hiểu sai rằng sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó;

+ Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ đối với rượu vang, rượu mạnh cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó, kể cả trường hợp có nêu chỉ dẫn về nguồn gốc xuất xứ thật của hàng hoá hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm hoặc được sử dụng kèm theo các từ loại, kiểu, dạng, phỏng theo hoặc những từ tương tự như vậy.

1.3. Bản chất

Bản chất của tội phạm này là hành vi xâm phạm tài sản trí tuệ có giá trị kinh tế cao, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến: Quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu; Lòng tin của người tiêu dùng; Trật tự quản lý kinh tế; Uy tín quốc gia trong hội nhập quốc tế.

Hành vi phạm tội thường mang động cơ vụ lợi, hướng tới trục lợi bất chính từ giá trị thương mại, công nghệ, thương hiệu mà người khác tạo dựng hợp pháp.

2. Cấu thành tội phạm của Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

2.1. Chủ thể

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong một số trường hợp theo quy định pháp luật hình sự. 

Chủ thể của tội phạm là cá nhân đủ 16 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự

Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân thực hiện tội phạm một mình nhưng cũng có thể là nhiều người cùng thực hiện tội phạm. Trường hợp nhiều người thực hiện cùng một tội phạm được quy định theo Điều 17 Bộ luật Hình sự, quy định về đồng phạm. Theo đó, đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Trong một số trường hợp, chủ thể có thể là người có chức vụ, quyền hạn như cán bộ tuyển dụng lao động, người đại diện công ty xuất khẩu lao động… nếu lợi dụng vị trí để cưỡng ép người khác, có thể bị xem xét tăng nặng trách nhiệm.

2.2. Khách thể

Khách thể trực tiếp: Quyền sở hữu công nghiệp hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Khách thể gián tiếp: Trật tự quản lý kinh tế, môi trường kinh doanh lành mạnh, quyền lợi người tiêu dùng, lợi ích quốc gia trong thương mại quốc tế.

2.3. Mặt khách quan

2.3.1. Hành vi khách quan

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi, xuất xứ hàng hóa hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ tại Việt Nam.

Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh. 

2.3.2. Hậu quả

Gây thiệt hại cho chủ thể quyền sở hữu công nghiệp: thiệt hại về doanh thu, lợi nhuận, uy tín thương hiệu.

Làm lũng đoạn thị trường: người tiêu dùng bị đánh lừa, mất niềm tin vào sản phẩm, gây mất ổn định môi trường kinh doanh.

Gây thất thu ngân sách Nhà nước do việc trốn tránh nghĩa vụ thuế, phí bản quyền hợp pháp.

Gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín quốc gia trên trường quốc tế, vi phạm các cam kết về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong các hiệp định thương mại quốc tế (WTO, CPTPP, EVFTA…).

2.3.3. Mối quan hệ nhân quả

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các hậu quả kinh tế – xã hội nói trên.

Mối quan hệ nhân quả có thể thấy rõ trong quá trình điều tra: từ hành vi vi phạm đến các thiệt hại vật chất cụ thể (số lượng sản phẩm vi phạm, doanh thu bất hợp pháp, giá trị thiệt hại của chủ sở hữu hợp pháp…).

2.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội biết rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Mục đích: Trục lợi bất chính, thu lợi bất hợp pháp từ việc lợi dụng uy tín, thương hiệu, công nghệ, kiểu dáng do người khác sáng tạo, đăng ký và được pháp luật bảo hộ.

3. Mức hình phạt của Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

3.1. Mức hình phạt của Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với cá nhân

KHUNG HÌNH PHẠT 1: Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

KHUNG HÌNH PHẠT 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: Có tổ chức; Phạm tội 02 lần trở lên; Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên; Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500.000.000 đồng trở lên;  Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

3.2. Mức hình phạt của Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với pháp nhân

Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;

Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Trên đây là bài viết của Luật Dương Gia về “Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”. Trong trường hợp còn đang thắc mắc hoặc cần sử dụng dịch vụ, hãy liên hệ ngay với Luật Dương Gia để được tư vấn nhanh chóng và chính xác nhất.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng

Chi nhánh Miền Trung: 67 Trần Xuân Lê, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

Điện thoại: 0931548999; 02367300899

Gọi ngay
Gọi ngay