Khám xét chỗ ở là một trong những biện pháp điều tra nghiêm ngặt nhất, trực tiếp ảnh hưởng đến quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân, một quyền được Hiến pháp bảo vệ. Vì vậy, người dân cần nắm rõ khi nào được khám xét, ai được khám xét, thủ tục ra sao để vừa không bị xem là cản trở người thi hành công vụ, vừa bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Luật Dương Gia xin gửi tới Quý bạn đọc quy định về khám xét nhà trong bài viết dưới đây.
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng
Chi nhánh Miền Trung: 67 Trần Xuân Lê, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0931548999; 02367300899
Cơ sở pháp lý
– Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013;
– Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021, năm 2025;
1. Nơi ở hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ như thế nào?
Theo quy định pháp luật, không ai được tự ý xâm phạm nhà ở của người khác; việc làm này là xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, cụ thể:
Căn cứ Điều 22 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 có quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như sau:
“Điều 22.
- Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.
- Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.
- Việc khám xét chỗ ở do luật định.”
Bên cạnh đó, Điều 12 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định:
“Điều 12. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân
Không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân.
Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.”
Từ các quy định trên có thể thấy, mỗi công dân đều có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, việc tự ý khám xét nhà của người khác là trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, vẫn sẽ có một số trường hợp cần phải khám xét chỗ ở của cá nhân để thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm truy tìm ra tội phạm, bảo vệ được an nình trật tự xã hội.
2. Khi nào thì được khám xét nhà?
Căn cứ Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sư năm 2015 quy định về căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử, cụ thể:
“Điều 192. Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử
- Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án. Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.
- Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử.”
Từ quy định trên, việc khám xét chỗ ở được thực hiện khi:
- Có căn cứ cho rằng trong nhà có người, đồ vật, tài liệu liên quan đến tội phạm.
- Để bắt người đang bị truy nã hoặc đang bị truy tìm và giải cứu nạn nhân.
- Để thu giữ tang vật, phương tiện phạm tội; tài liệu có ý nghĩa đối với vụ án.
Như vậy, khi muốn khám xét chỗ ở của công dân phải có căn cứ theo luật định thì mới được khám xét. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể tùy tiện khám xét chỗ ở của người khác mà chỉ có những đối tượng theo luật định.
3. Ai có quyền ra lệnh khám xét nhà?
Căn cứ Điều 193 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 được sửa đổi bởi Khoản 24 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025 quy định về thẩm quyền ra lệnh khám xét:
“Điều 193. Thẩm quyền ra lệnh khám xét
- Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
- Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
- Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản khám xét.
- Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.”
Theo đó Khoản 1 Điều 113 được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025 quy định về thẩm quyền như sau:
“Điều 113. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
1. Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử.”
Như vậy, từ các căn cứ trên có thể thấy, Thẩm quyền ra lệnh khám xét là những người có thẩm quyền bắt bị can, bị cáo để tạm giam bao gồm:
– Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
– Điều tra viên (chỉ trong trường hợp đặc biệt theo khoản 1a Điều 37 – khi được phân công thực hiện một số nhiệm vụ tố tụng nhất định). Lệnh khám xét do Điều tra viên ban hành phải được Viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành;
– Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
– Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân các cấp, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng xét xử.
4. Trình tự – thủ tục khám xét nhà
Theo Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung bởi Khoản 59 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025 quy định về Khám xét nhà như sau:
“Điều 195. Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện
1. Khi khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã và người chứng kiến; trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và hai người chứng kiến.
Không được bắt đầu việc khám xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
2. Khi khám xét nơi làm việc của một người thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Việc khám xét nơi làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Trong trường hợp không có đại diện cơ quan, tổ chức thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi khám xét và 02 người chứng kiến.
3. Khi khám xét địa điểm phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi khám xét và người chứng kiến.
4. Việc khám xét phương tiện phải có mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện và người chứng kiến. Trường hợp chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có hai người chứng kiến.
Khi khám xét phương tiện có thể mời người có chuyên môn liên quan đến phương tiện tham gia.
5. Khi tiến hành khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xét xong.”
Như vậy việc khám xét chỗ ở phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự sau:
- Xác lập lệnh khám xét hợp pháp
Trước khi khám xét, người có thẩm quyền phải có:
- Lệnh khám xét bằng văn bản (trừ trường hợp khám xét khẩn cấp).
- Lệnh phải ghi rõ:
- Căn cứ, lý do khám xét;
- Địa điểm khám xét;
- Người bị khám xét;
- Tài liệu, đồ vật cần thu giữ;
- Chữ ký của người ra lệnh.
- Công bố lệnh khám xét
Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải:
- Công bố lệnh khám xét cho người có nhà bị khám xét hoặc người đại diện gia đình;
- Yêu cầu họ ký xác nhận vào lệnh;
- Nếu họ vắng mặt, phải mời đại diện chính quyền địa phương và 02 người làm chứng tham dự.
- Tiến hành khám xét
Khi khám xét:
- Việc khám xét phải được tiến hành khách quan, đúng phạm vi lệnh khám xét
- Không được tùy ý phá hoại tài sản;
- Người bị khám xét hoặc người đại diện có quyền quan sát, giám sát quá trình khám xét.
- Lập biên bản khám xét
Biên bản phải:
- Mô tả rõ thời gian, địa điểm, diễn biến khám xét;
- Ghi nhận đầy đủ đồ vật, tài liệu bị thu giữ;
- Có chữ ký của Điều tra viên, người chứng kiến, chủ nhà hoặc người đại diện (nếu họ từ chối ký phải ghi rõ lý do).
- Niêm phong, quản lý tang vật
Tang vật, tài liệu thu giữ phải:
– Được niêm phong đúng quy định;
– Được mô tả chi tiết trong biên bản;
– Được giao nhận theo đúng thủ tục.
5. Quyền của công dân khi bị khám xét nhà
Người dân có các quyền sau:
5.1. Được xem lệnh khám xét và yêu cầu người thi hành công vụ xuất trình thẻ ngành
- Bạn có quyền yêu cầu xem lệnh khám xét hợp pháp.
- Bạn có quyền từ chối nếu người khám xét không có thẩm quyền hoặc không xuất trình lệnh (trừ trường hợp khẩn cấp theo luật định).
5.2. Được mời người làm chứng, đại diện chính quyền
Nếu trong nhà không có ai ở nhà, việc khám xét chỉ được tiến hành khi có:
- Đại diện chính quyền địa phương; và
- Hai người làm chứng.
5.3. Được giám sát quá trình khám xét
- Bạn có quyền đứng quan sát toàn bộ quá trình khám xét.
- Bạn có quyền yêu cầu ghi nhận ý kiến của mình vào biên bản.
5.4. Được bảo vệ tài sản hợp pháp
- Lực lượng thi hành công vụ không được tự ý phá khóa, phá tài sản nếu không cần thiết.
- Nếu có hư hỏng phải được lập biên bản.
5.5. Quyền nhờ luật sư tham gia
Bạn có thể:
– Liên hệ luật sư để được hướng dẫn trong khi khám xét;
– Yêu cầu ghi vào biên bản việc bạn cần có luật sư (ngay cả khi cơ quan chức năng vẫn tiến hành khám xét).
6. Các trường hợp vi phạm khi thực hiện việc khám xét
Việc khám xét sẽ bị coi là trái pháp luật nếu:
– Không có lệnh khám xét (và không thuộc trường hợp khẩn cấp)
– Người ra lệnh không có thẩm quyền
– Khám xét sai thời gian: Chỉ được khám xét vào ban ngày, trừ trường hợp khẩn cấp.
– Không có người chứng kiến theo luật: Khám xét vắng chủ nhà mà không có đại diện chính quyền hoặc người làm chứng.
– Không lập biên bản hoặc biên bản không đầy đủ nội dung.
7. Kết luận và khuyến nghị
Khám xét chỗ ở là hoạt động tố tụng nghiêm ngặt, có tác động mạnh đến quyền con người. Vì vậy, người dân cần:
– Nắm rõ quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở;
– Xác định rõ lệnh khám xét, người ra lệnh, phạm vi khám xét có hợp pháp không;
– Giữ thái độ hợp tác nhưng kiên quyết bảo vệ quyền của mình;
– Yêu cầu ghi nhận ý kiến vào biên bản khi cần thiết;
– Hạn chế tự quay livestream gây cản trở hoạt động tố tụng;
– Tìm đến luật sư ngay khi cảm thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm.
8. Tầm quan trọng của luật sư
Luật sư đóng vai trò quan trọng trong các vụ việc liên quan vụ án hình sự và hoạt động tố tụng:
– Giúp người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình khi bị khám xét;
– Hướng dẫn cách ứng xử đúng để không bị quy kết tội “chống người thi hành công vụ”;
– Kiểm tra tính hợp pháp của lệnh khám xét;
– Yêu cầu ghi nhận sai phạm (nếu có) vào biên bản;
– Bảo vệ quyền lợi của công dân trong suốt quá trình điều tra.
Việc tham vấn luật sư từ đầu giúp hạn chế tối đa rủi ro pháp lý và bảo đảm mọi quyền của công dân được tôn trọng đúng pháp luật.
Luật Dương Gia với đội ngũ Luật sư, cố vấn có chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm. Lấy mục tiêu hoạt động “Thống lĩnh – Tiên phong”, chúng tôi luôn mong muốn và cam kết nỗ lực để đem lại cho Khách hàng những dịch vụ tốt nhất. Rất mong được hợp tác, hỗ trợ Quý Khách trong thời gian tới!

