Trong hoạt động tố tụng hình sự, việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân luôn là nguyên tắc xuyên suốt và đóng vai trò then chốt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Pháp luật Việt Nam cũng như các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đều nghiêm cấm tuyệt đối mọi hành vi tra tấn, bức cung, mớm cung, hay bất kỳ hình thức cưỡng bức nào đối với người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn những trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng mà điển hình là hành vi nhục hình – tức sử dụng bạo lực thể chất hoặc tinh thần trong quá trình điều tra để ép buộc lời khai.
Đây là hành vi không chỉ vi phạm pháp luật hình sự mà còn xâm phạm nghiêm trọng đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự và nhân phẩm của con người. Việc phân tích đầy đủ khái niệm, dấu hiệu pháp lý, hậu quả và chế tài đối với hành vi nhục hình là cần thiết để nâng cao nhận thức pháp luật, tăng cường tính răn đe và phòng ngừa vi phạm trong hoạt động tư pháp.
Cơ sở pháp lý:
- Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017
1. Quy định của pháp luật về tội dùng nhục hình
Tội dùng nhục hình được quy định tại Điều 373 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Việt Nam. Đây là một tội danh nghiêm trọng trong nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, cụ thể là hành vi trái pháp luật của người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động tố tụng hình sự, gây ảnh hưởng đến quyền con người.
Điều 373. Tội dùng nhục hình
1. Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
đ) Gây thương tích hoặc gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Làm người bị nhục hình tự sát.
4. Phạm tội làm người bị nhục hình chết, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
2. Các yếu tố cấu thành tội phạm về tội dùng nhục hình
Mặt khách thể: Hành vi dùng nhục hình xâm phạm đến xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại, đồng thời xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thi hành án.
Mặt chủ thể: Chủ thể của tội Dùng nhục hình là chủ thể đặc biệt, là những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Mặt khách quan: Hành vi khách quan của tội này là “dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào”, ví dụ như: tra tấn bằng vũ lực (đấm, đá bằng tay , chân hoặc sử dụng các vậy dụng như roi, gậy,…) và các hình thức tra tấn khác (bắt nhịn ăn, không cho ngủ, bắt lao động nặng nhọc,…)
Mặc dù điều luật không quy định cụ thể về đối tượng bị xâm hại, như trên thực tế để được xem xét là phạm tội Dùng nhục hình, đối tượng bị xâm hại là những đối tượng sau:
+ Bị can, bị cáo (trong vụ án hình sự).
+ Phạm nhân (người bị kết án về hình sự đang chấp hành hình phạt).
+ Người bị (phải) thi hành án (theo thủ tục thi hành án dân sự).
+ Các đương sự (trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình).
Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.
Ví dụ: Theo Báo Tuổi Trẻ và Báo Thanh Niên một vụ án gần đây (cuối năm 2024) cựu Trung Uý công an quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh bị phạt tù 13 năm về tội dùng nhục hình và thiếu trách nhiệm để người bị tạm giam trốn. Theo cáo trạng của VKSND Tối cao, ngày 24-2-2022, Triệu Quang Bình đến Công an phường 27, quận Bình Thạnh đầu thú về tội trộm cắp tài sản. Do đang trong giai đoạn dịch COVID-19 nên Công an quận Bình Thạnh ra quyết định tạm giữ và đưa Bình vào cách ly tại Nhà tạm giữ Công an quận 11.
Theo phân công, Võ Thành Đạt là tổ trưởng trực quản giáo từ 7 giờ 30 ngày 26-2 đến 7 giờ 30 ngày 27-2-2022. Do người bị tạm giữ Triệu Quang Bình có biểu hiện bất thường, quậy phá trong buồng giam nên đêm 26-2-2022, Võ Thành Đạt đã ba lần tự ý trích xuất các phạm nhân đang thi hành án phạt tù tại Nhà tạm giữ Công an quận 11 (phạm nhân tự giác) ra khỏi buồng giam để hỗ trợ Đạt giải quyết việc Bình quậy phá.
Cạnh đó, Đạt cũng ba lần tự ý trích xuất Triệu Quang Bình ra khỏi buồng giam để nhắc nhở. Qua các lần trích xuất, Bình ra hành lang để nhắc nhở Đạt cùng Lâm và Thanh đánh lên người Bình khiến Bình tử vong.
Theo kết luận giám định pháp y, nguyên nhân tử vong của nạn nhân Triệu Quang Bình là suy hô hấp do phù phổi cấp trên cơ thể đa chấn thương phần mềm cũ.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và cho biết do bức xúc với việc Bình vi phạm nội quy giam, giữ nhiều lần nên đã đánh Bình.
Đại diện VKS cho rằng, nếu anh Bình sai thì các bị cáo phải báo lên cấp trên để có biện pháp xử lý, lập biên bản vụ việc, nhưng Nhà tạm giữ không hề có biên bản nào. Tại phiên tòa, cũng như cơ quan điều tra, các bị cáo thừa nhận là có đánh anh Bình, mặc dù đây không phải là nguyên nhân trực tiếp nhưng hậu quả đã xảy ra là anh Bình tử vong. Đây là hậu quả định khung hình phạt của các bị cáo.
HĐXX nhận định, bị cáo Đạt đã có hành vi tự ý trích xuất trái phép 6 bị can trong đó có Quách Bảo Lâm và Lữ Hoài Thanh đến buồng tạm giam của Bình để đưa Bình ra ngoài hành lang. Trong vụ án này, bị cáo Đạt giữ vai trò chủ mưu, bị cáo Lâm và Thanh vai trò giúp sức nhưng có phần hạn chế.
Hành vi dùng nhục hình đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ mà pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của Võ Thành Đạt là đặc biệt nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan công an và uy tín của người cán Bộ công an đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động tư phá
3. Khung hình phạt đối với tội dùng nhục hình
Căn cứ Điều 373 Bộ luật hình sự 2015 quy định khung hình phạt như sau:
Khung 1: Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khung 2: . Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
đ) Gây thương tích hoặc gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 60%.
Khung 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Làm người bị nhục hình tự sát.
Khung 4: Phạm tội làm người bị nhục hình chết, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Khung 5: Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Việc sử dụng nhục hình trong thi hành án không chỉ đi ngược lại với nguyên tắc thượng tôn pháp luật mà còn xâm phạm nghiêm trọng đến quyền con người – một giá trị cốt lõi trong mọi xã hội văn minh. Nhục hình không phải là công cụ để thực thi công lý mà là biểu hiện của sự lạm quyền, bạo lực và phi nhân tính. Hệ lụy của việc sử dụng nhục hình có thể kéo theo những hậu quả nghiêm trọng ví dụ như gây oan sai, làm tổn thương tinh thần và thể xác của người bị giam giữ, khiến lòng tin của người dân vào cơ quan tư pháp bị suy giảm nghiêm trọng.
Vì vậy, cần phải đấu tranh loại bỏ hoàn toàn hành vi này không chỉ là trách nhiệm của riêng các cơ quan tiến hành tố tụng, mà còn là nghĩa vụ chung của toàn xã hội nhằm xây dựng một nền tư pháp minh bạch, công bằng và nhân đạo. Chỉ khi mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, tôn trọng nhân phẩm con người thì mới có thể đảm bảo sự ổn định xã hội, bảo vệ công lý và niềm tin vào pháp luật của nhân dân.

