Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

toi-can-tro-viec-thuc-hien-nghia-vu-quan-su

Giữa bối cảnh tình hình an ninh – quốc phòng khu vực và thế giới tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, việc xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, tinh nhuệ, sẵn sàng chiến đấu càng trở thành nhiệm vụ trọng yếu của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, bên cạnh việc củng cố quốc phòng thì đâu đó vẫn tồn tại những hành vi cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự. Đây không chỉ là sự chống đối pháp luật, mà còn là sự thách thức đối với kỷ cương quốc gia và lòng tự tôn dân tộc. Do đó, pháp luật hình sự Việt Nam đã nhận diện rõ hành vi này và quy định xử lý dưới tội danh “Cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự”.

Hãy cùng Luật Dương gia tìm hiểu cụ thể thông qua bài viết dưới đây.

Căn cứ pháp lý:

– Bộ luật Hình sự 2015;

– Luật Nghĩa vụ quân sự;

1. Thế nào là Cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự”?

Nghĩa vụ quân sự không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng và vẻ vang của mỗi công dân đối với Tổ quốc. Đây là sự thể hiện tinh thần yêu nước, ý thức xây dựng và bảo vệ nền quốc phòng toàn dân. Theo quy định tại Điều 4 Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và trong ngạch dự bị của quân đội nhân dân, cụ thể:

“1. Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong quân đội nhân dân. Thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của quân đội nhân dân.

2. Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật này.

3. Công dân phục vụ trong lực lượng Cảnh sát biển và thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân được coi là thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ.

4. Công dân thuộc một trong các trường hợp sau đây được công nhận hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trong thời bình:

a) Dân quân tự vệ nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, trong đó có ít nhất 12 tháng làm nhiệm vụ dân quân tự vệ thường trực;

b) Hoàn thành nhiệm vụ tham gia công an xã liên tục từ đủ 36 tháng trở lên;

c) cán bộ, công chức, viên chức, sinh viên tốt nghiệp đại học trở lên, đã được đào tạo và phong quân hàm sĩ quan dự bị;

d) thanh niên đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp tình nguyện phục vụ tại đoàn kinh tế – quốc phòng từ đủ 24 tháng trở lên theo Đề án do Thủ tướng Chính phủ quy định;

đ) công dân phục vụ trên tàu kiểm ngư từ đủ 24 tháng trở lên.”

Theo đó, thì hành vi cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự” được hiểu là sự ngăn cản, gây khó khăn hoặc dùng các thủ đoạn nhằm làm cho người có nghĩa vụ quân sự không thể hoặc không thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước trong lĩnh vực quân sự, như đăng ký, khám sức khỏe, nhập ngũ, huấn luyện, hoặc thực hiện nghĩa vụ phục vụ tại ngũ, tham gia lực lượng dự bị động viên,…

Với các nội dung nói trên, tại Bộ luật Hình sự 2015 đã đặt ra quy định với các khung hình phạt cụ thể tại Điều 335, cụ thể:

“Điều 335. Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự

1. Người nào cố ý cản trở việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc trong thời chiến, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.”

2. Các yếu tố cấu thành tội phạm

Nhằm xử lý nghiêm minh những hành vi này, thì việc phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm chính là cơ sở quan trọng để có thể làm rõ bản chất pháp lý của hành vi vi phạm, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại tội phạm liên quan đến nghĩa vụ quân sự trong thực tiễn.

2.1. Mặt khách thể

Là sự cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của Nhà nước; xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan hành chính Nhà nước, trong đó có các cơ quan quân sự địa phương, chính sách nghĩa vụ quân sự cũng như các chính sách về việc gọi nhập ngũ, tập trung huấn luyện.

2.2. Mặt chủ thể

Chủ thể của tội danh này là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên. Họ không phải chủ thể đặc biệt nên bất kì ai trong độ tuổi quy định cũng có thể trở thành chủ thể của tội này.

2.3. Mặt chủ quan

Hành vi khách quan của Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm các hành vi như:

– Cản trở việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện.

– Tìm cách ngăn lại làm cho việc thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự khó tiến hành hoặc tiến hành không được.

– Làm trái việc thực hiện nghĩa vụ quân sự.

– Bằng mọi thủ đoạn, phương pháp như tổ chức cho con em mình trốn khỏi địa phương, giúp người khác gây thương tích để trốn tránh nghĩa vụ quân sự…),

Đối với tội danh này, hậu quả xảy ra không là dấu hiệu bắt buộc. Nếu hành vi gây hậu quả cụ thể có thể cấu thành các tội phạm tương ứng, còn lại, tội phạm được xác định là hoàn thành khi chủ thể có hành vi cản trở nói trên.

2.4. Mặt chủ quan

Chủ thể phạm tội này thực hiện hành vi một cách cố ý, dù nhận thức rõ hành vi của mình là cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra; hoặc thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

3. Khung hình phạt

Căn cứ theo quy định tại Điều 332 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự có thể bị xử lý hình sự với các mức hình phạt khác nhau, tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả gây ra trên thực tế.

 – Khoản 1: Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Đây là khung hình phạt mang tính giáo dục, răn đe nhẹ, thể hiện sự phân hóa trong chính sách hình sự nhằm tạo điều kiện cho người vi phạm có cơ hội sửa chữa, khắc phục hậu quả và tái hòa nhập cộng đồng.

– Khoản 2: Phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

Quy định khung hình phạt tại Khoản 2 này có phần nghiêm khắc hơn, áp dụng đối với những trường hợp phạm tội có tình tiết tăng nặng, phạm tội có tổ chức, tái phạm nguy hiểm hoặc hành vi gây ảnh hưởng lớn đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Việc phân chia hai khung hình phạt này vừa bảo đảm tính công bằng, linh hoạt trong xét xử, vừa thể hiện nguyên tắc cá thể hóa hình phạt – một nguyên tắc cơ bản trong chính sách hình sự Việt Nam.

Với các nội dung trên, nhận thấy, mỗi hành vi cố tình can thiệp, tác động, hoặc làm gián đoạn quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự đều cần được nhìn nhận dưới lăng kính pháp lý một cách chặt chẽ và thấu đáo nhằm tạo tiền đề quan trọng để đảm bảo rằng các chế tài hình sự không chỉ được áp dụng kịp thời, mà còn công bằng, hợp lý và mang tính răn đe xã hội. Việc hoàn thiện cơ chế pháp lý và nâng cao nhận thức cộng đồng về loại tội phạm này là một trong những bước đi cần thiết để khẳng định rằng, thực hiện nghĩa vụ quân sự không chỉ là trách nhiệm, mà còn là danh dự của mỗi công dân trong một quốc gia độc lập, tự cường.

Trên đây là toàn bộ những thông tin có liên quan đến “Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự”. Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ thông tin:

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng

Chi nhánh Miền Trung: 67 Trần Xuân Lê, phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

Điện thoại: 0931548999; 02367300899

Gọi ngay
Gọi ngay