Trong bất kỳ quốc gia nào, nghĩa vụ quân sự luôn được xem là một trong những trách nhiệm thiêng liêng và cao cả nhất của mỗi công dân, đặc biệt là đối với thanh niên – lực lượng xung kích trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Việc tham gia nghĩa vụ quân sự không chỉ là sự thể hiện lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng mà còn là cơ hội để mỗi người rèn luyện bản thân, trưởng thành và góp phần vào sự nghiệp giữ gìn độc lập, chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ người dân, đặc biệt là giới trẻ, có biểu hiện chểnh mảng, né tránh hoặc thậm chí cố tình vi phạm các quy định của pháp luật về nghĩa vụ quân sự.
Những hành vi này ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thức tinh vi như làm giả giấy tờ, mua bán bệnh án, hoặc lợi dụng các kẽ hở trong quy định pháp luật để trốn tránh nghĩa vụ. Điều này không chỉ gây tổn hại đến tính nghiêm minh của pháp luật mà còn đi ngược lại đạo lý, truyền thống dân tộc về lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm cộng đồng.
Đồng thời, nó cũng làm suy giảm sức mạnh quốc phòng, ảnh hưởng đến sự công bằng xã hội và hình ảnh của thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.Từ đó, cho thấy “Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự” có ảnh hưởng như thế nào đến sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.
Căn cứ pháp lý:
Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017
1. Quy định về tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự
Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái với quy định thực hiện nghĩa vụ quân sự như: đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi huấn luyện tập trung.
Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự được quy định tại Điều 334 Bộ luật hình sự 2015:
Điều 334. Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự
- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Phạm tội trong thời chiến, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
- Cấu thành tội phạm tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự
1.1 Về mặt chủ thể
Chủ thể về tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là chủ thể đặc biệt:
– Người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, đối với tội phạm này, người có chức vụ, quyền hạn phải là người có trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự. Chỉ những người có liên quan đến những quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, về gọi nhập ngũ, về gọi tập trung huấn luyện mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.
– Chủ thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều nhưng không có điều nào thuộc Chương XXII Bộ luật hình sự. Như vậy chủ thể của tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự là người từ đủ 16 tuổi trở lên.
Ví dụ:
Cán bộ ban chỉ huy quân sự xã, phường.
Cán bộ y tế tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự.
Người có trách nhiệm trong Hội đồng nghĩa vụ quân sự…
1.2 Về mặt khách thể
Khách thể của tội phạm này là chính sách (chế độ) nghĩa vụ quân sự của Nhà nước; xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan hành chính Nhà nước, trong đó có các cơ quan quân sự của địa phương. Tuy nhiên, đối với tội phạm này, chính sách nghĩa vụ quân sự bị xâm phạm được giới hạn bởi chính sách về đăng ký nghĩa vụ quân sự; chính sách về gọi nhập ngũ, về gọi tập trung huấn luyện.
– Khách thể trực tiếp: Trật tự, kỷ cương trong quản lý nhà nước về nghĩa vụ quân sự.
– Khách thể gián tiếp: Quyền và nghĩa vụ của công dân, hiệu quả hoạt động quốc phòng.
1.3 Về mặt chủ quan
Người phạm tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự, người phạm tội “Làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự” thực hiện hành vi do cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Tức là nhận thức rõ hành vi của mình là làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, gây ảnh hưởng đến kế hoạch tổ chức thực hiện nghĩa vụ quân sự, bổ sung lực lượng nòng cốt bảo vệ đất nước. Người phạm tội cũng có thể thấy trước hậu quả của hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, nhưng chủ yếu là bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Mục đích của hành vi này: Có thể vì động cơ vụ lợi, cá nhân, bao che người thân, né tránh trách nhiệm…
1.4 Về mặt khách quan
Hành vi của tội phạm là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện. Đây là một dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Người phạm tội phải là người đang có chức vụ, quyền hạn liên quan đến công tác tổ chức, thực hiện nghĩa vụ quân sự, và lợi dụng vị trí đó để thực hiện hành vi trái pháp luật.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn của hành vi trên được hiểu là: Sử dụng quyền hạn được giao trái với mục đích, quy định của pháp luật, nhằm đạt được một lợi ích cá nhân hoặc mục tiêu sai trái khác, và gây ảnh hưởng xấu đến công tác tuyển quân, tổ chức quân sự, hoặc quyền lợi của công dân.
2. Khung hình phạt pháp lý
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự có thể bị xử phạt hành chính hay nặng hơn, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 332 của Bộ Luật Hình sự hiện hành.
Bên cạnh đó việc thực hiện và cung cấp cho người khác những loại giấy khám sức khỏe không đúng với tình trạng sức khỏe thực sự của đương sự nhằm để trốn tránh nghĩa vụ quân sự được xem là vi phạm pháp luật. Hành vi này không chỉ đơn thuần bị xử phạt vi phạm hành chính mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm giả tài liệu, con dấu của các cơ quan tổ chức khác, được quy định tại Điều 341 hoặc Điều 334 của Bộ Luật Hình sự.
Căn cứ Điều 332: Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự
Khung 1. Người nào không chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Khung 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của mình;
b) Phạm tội trong thời chiến;
c) Lôi kéo người khác phạm tội.
Căn cứ Điều 334: Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự
Khung 1: Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, gọi nhập ngũ, gọi tập trung huấn luyện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khung 2: Phạm tội trong thời chiến, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Khung 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Căn cứ Điều 341: Tội làm giả con dấu, tài liệu cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Khung 1: Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;
d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm;
đ) Thu lợi bất chính 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
e) Tái phạm nguy hiểm.
Khung 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;
b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;
c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.
Khung 4: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Thực trạng nhiều cá nhân hiện nay cố tình làm sai, trốn tránh hoặc lách luật để không thực hiện đúng nghĩa vụ được quy định đã và đang đặt ra nhiều vấn đề đáng lo ngại trong xã hội. Những hành vi như trốn nghĩa vụ quân sự, vi phạm quy định trong công tác, học tập hay né tránh trách nhiệm với cộng đồng… không chỉ làm suy giảm hiệu lực của pháp luật mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần công bằng, minh bạch và ý thức cộng đồng.
Sự thiếu hiểu biết pháp luật, tâm lý ích kỷ của các cá nhân, cùng với những kẽ hở trong công tác quản lý và xử lý vi phạm là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Nếu mỗi người dân đều chọn cách “né tránh” trách nhiệm của mình thì không những các chính sách xã hội khó được thực thi hiệu quả, mà còn làm xói mòn các giá trị đạo đức và tinh thần đoàn kết vốn là nền tảng của một xã hội phát triển.
Do đó, để khắc phục tình trạng làm trái với quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, cần sự vào cuộc quyết liệt và đồng bộ từ nhiều phía: từ các chính quyền của địa phương với các chế tài đủ mạnh và sự giám sát chặt chẽ, cho đến các tổ chức xã hội và trường học trong việc tuyên truyền, giáo dục nhận thức pháp luật. Quan trọng hơn cả, mỗi cá nhân cần phải tự nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức được rằng việc thực hiện đúng nghĩa vụ không chỉ là tuân thủ pháp luật mà còn là cách để thể hiện lòng yêu nước, sự tôn trọng cộng đồng và góp phần xây dựng một xã hội văn minh, kỷ cương và phát triển bền vững.

